Home Blog

Bài 7: Bổ Trung Ích Khí

Suy nhược cơ thể, tạp bệnh lâu năm và ứng dụng bài Bổ Trung Ích Khí (BTIK)

Có nhiều người luôn cảm giác mệt mỏi không khỏe trong người như suy nhược cơ thể, thiếu hơi mệt mỏi, sợ gió sợ mưa v.v Nhưng khi đi khám bệnh tổng quát Tây y thì không có bệnh, gan thận tim đều bình thường, mọi thứ đều bình thường. Với Đông y thì đa số họ là do KHÍ bị bệnh.

Vậy Khí là gì?

Tại sao lại bệnh?

Tại sao xét nghiệm Tây y không ra?

Ví dụ về Huyết – Áp cho mọi người dễ hiểu. Huyết là máu, là hữu hình; Áp là áp lực máu, là vô hình. Khi truyền máu vào cơ thể, bác sĩ để bình máu lên cao là muốn tăng Áp lực để đẩy máu đi xuống vào cơ thể, điều ấy đồng nghĩa nếu không có Áp lực thì máu sẽ không di chuyển. Với Tây y thì bác sĩ chỉ chữa thiếu máu thôi, nhẹ thì uống vitamin B9, B12, Fe, ăn thịt bò, tôm, cà rốt, củ dền v.v. Nhưng phần lớn bệnh nhân áp dụng ăn như vậy nhưng không tăng máu là tại sao? Vấn đề ở đây là làm sao tăng ÁP LỰC MÁU, chứ không phải chỉ bổ máu, mà làm sao để tăng áp lực máu nội tại của cơ thể thì Tây y khó điều trị được ngoài việc cang thiệp bằng thiết bị máy móc.

📌 Trong Đông y ÁP LỰC MÁU thuộc KHÍ.

Khí là một quá trình tương tác của nhiều cơ quan phối hợp đồng bộ với nhau. Khi ăn vào bụng, thì dạ dày co bóp (VỊ KHÍ), mỗi nhịp co bóp sẽ tạo ra một dòng khí đi xuống ruột, dòng khí này lại hỗ trợ giúp dòng khí của ruột nhu động mà hấp thu dinh dưỡng, mỗi dòng khí do ruột nhu động hấp thu lại giúp đẩy dinh dưỡng vào máu đi về gan (TỲ KHÍ), CAN KHÍ lại co bóp sinh ra dòng khí kết hợp với tỳ khí mà chuyển hóa dinh dưỡng, PHẾ KHÍ hít oxy vào phổi (Hít sâu thì khí nhiều oxy), lại giáng oxy xuống mà chuyển hóa thành huyết (HUYẾT = Protein + Fe + B12,B9 + O2), lại được TÂM KHÍ đẩy huyết đi lưu thông nuôi dưỡng cơ thể, cuối cùng được THẬN KHÍ bên dưới thanh lọc bài tiết chất độc thải ra ngoài.

Theo kinh nghiệm bản thân, Can Khí đóng vai trò quan trọng bậc nhất trong quá trình tiêu hóa và hấp thu dinh dưỡng này. Chức năng giáng của vị, chức năng thăng của tỳ đều nhờ vào tính sơ tiết (sơ thông, thăng phát, phát tiết) của can. Cơ thể có hấp thu hay không không phải đơn thuần là bổ tỳ vị cho khỏe, mà quan trong can phải sơ tiết điều hòa, không mạnh cũng không yếu để giúp máu huyết vận hành đi nuôi dưỡng tỳ vị, lại giúp sản xuất mật cho đởm mà hỗ trợ tiêu hóa (Can khí chức năng rất rộng). Còn Thận khí bên dưới như cái máy xoay không ngừng nghĩ, tốc độ xoay càng điều hòa thì máu huyết lưu thông càng ổn định, chất độc trong máu được làm sạch, máu sạch lưu thông nuôi dưỡng cơ thể, con người càng khỏe mạnh. Nên phác đồ điều trị trong đông y cho bệnh suy nhược nặng, tạp bệnh lâu năm trị gì thì trị, cuối cùng phải bổ thận khí, vì đó là Khí TIÊN THIÊN, căn bản của sinh mệnh. Còn Vị khí, Tỳ khí, Can khí, Phế khí, Tâm khí là Khí HẬU THIÊN.

Nên nếu bệnh nhân bị thiếu máu do thiếu ăn, thiếu chất thì ăn nhiều chất vào, bổ sung vitamin vào là tăng máu thôi. Còn nếu ăn dư chất, bổ sung vitamin, Fe v.v… mà không tăng máu thì do bị thiếu Áp, nghĩa là do cái KHÍ quá trình trên có vấn đề. Và vấn đề của thầy thuốc Đông y ở đây là phải biết nó nằm ở đâu mà chữa trị. Ví dụ: bạn bị viêm dạ dày thì dạ dày sẽ co bóp kém, dẫn đến áp lực khí kém, thì phải chữa ở dạ dày; viêm gan, nan gan thì can khí sẽ uất trệ suy yếu nên phải chữa ở gan; hay mạch máu bị ứ tắt làm khí không thông thì phải làm thông mạch máu, còn tạp bệnh lẫn lộn phải có biện chứng, phác đồ v.v.

Trong Đông y có hai bài thuốc bổ nổi tiếng, một bài là Kim Quỹ Thận Khí để bổ khí Tiên thiên, một bài là Bổ Trung Ích Khí để bổ khí hậu thiên. Hôm nay nói về bài:

📌 Bổ Trung Ích Khí

Bài thuốc BTIK là gồm bài Tứ Quân Tử Thang bỏ Bạch linh vì vị đạm nhạt thấm hút dọc xuống làm cản trở sự thăng phát bốc lên của khí; gia Đương Quy Bổ Huyết Thang có vị Hoàng kỳ bổ khí lực mạnh giúp thăng dương khí của Can Tỳ; Đương quy giúp hòa huyết mạch nhuận tỳ thổ làm đất đai tươi nhuận tránh sự cương táo thái quá của Bạch truật; Sài hồ thăng dương khí can đởm, Thăng ma thăng dương khí của tỳ vị, hai vị này chất thì nhẹ rỗng, khí thì thanh, nó xúc tác kích thích dẫn đạo để giúp cái khí Đẳng sâm, Hoàng kỳ, Trần bì bốc lên. Thăng ma thì xới đất (Tỳ vị), khơi hãm trệ cho đất tươi xốp mà bốc hơi lên; Sài hồ thì xới rễ cây cắt tỉa cành lá khô héo làm thông thủy đạo mà cây lá thăng phát xanh tươi, lúc này đất đai màu mỡ tươi xốp mà chức năng tỳ vị sẽ khôi phục. (Tỳ vị thuốc hành Thổ).

Về mặc YHHĐ, Thăng ma giúp khử ứ, giải độc, giảm đau, giải nhiệt trong dạ dày và ruột. Nhiệt này chủ yếu do bị thức ăn chèn ép tích tụ không thông, lúc này trong mạch máu cũng bị tắt nghẽn, bị chèn ép gây ứ trệ làm máu không đến nuôi dưỡng được, nên vị Hoàng kỳ giúp tăng áp lực máu của Đương quy giúp máu được thông, Sài hồ dẫn đạo tán những bọt khí ứ trong máu làm tăng tác dụng hòa huyết thông mạch máu của đương quy, lại sơ thông dẫn đạo giúp Hoàng kỳ, Đương quy tăng tác dụng chuyển hóa dinh dưỡng từ ruột non đến gan mà sinh huyết, Sài hồ lại giúp giải cái nhiệt bốc lên sinh nóng ở trên. Đẳng sâm thì tăng tác dụng hấp thu ở ruột non, Bạch truật giúp chuyển hóa protein, Cam thảo thì chống loét giải độc, Trần bì giúp dạ dày tiết dịch vị mà giúp tăng khả năng hấp thu dinh dưỡng. Ngoài ra, Sâm Kỳ gọi là thuốc bổ khí, uống vào làm nhịp tim tăng lên, giúp tốc độ lưu thông máu trong động tĩnh mạch chủ tăng, áp lực máu tăng, đây gọi là bổ ÁP để tăng Huyết.

📍 Quá trình bệnh sinh

Bài thuốc BTIK được lập ra để giúp tăng quá trình chuyển hóa thức ăn như trên. Vì khi ăn uống khó tiêu, thì thức ăn bao giờ cũng tích trong dạ dày và đường ruột, khi thức ăn tích sẽ sinh hơi, mà hơi không đi xuống điều hòa mà đi ngược lên sẽ dẫn đến ợ hơi, còn hơi mà đi xuống được thì sẽ thành xì hơi mà thối, khi hơi không đi lên không đi xuống được sẽ dẫn tới trướng bụng, nếu hơi này mà ẩm thấp nhiều nước sẽ sôi ruột, còn hơi này nhiều nhiệt sẽ nóng bụng, mà khi cực nóng sẽ phát nóng sốt bức rứt, môi miệng lỡ loét v.v Bên cạnh đó khi thức ăn tích lâu ngày, thì ruột sẽ bị chèn ép mà kém nhu động làm tạo ra môi trường kỵ khí mà sinh vi khuẩn, tiêu biểu là vi khuẩn HP. Mặc khác thức ăn chất độc tích trệ sẽ là mạch máu trong ruột sẽ bị ứ trệ theo, gọi là khí trệ dẫn đến huyết ứ, lúc này các khí độc vào máu sẽ bị kết lại ở các chỗ ứ trệ này, mà khí độc (Khí gốc N, P, S) vào máu lại không được gan chuyển hóa thành muối sẽ dẫn tới gan bị nhiễm độc làm nóng gan, men gan cao, viêm gan B, mụn nhọt, người nóng sốt, đỗ mồ hôi, tính tình trở nên dễ giận cáu gắt, tinh thần u uất, không thư thái v.v.

Khi ruột bị chèn ép thức ăn không đi xuống sẽ dẫn đến táo bón, đa số là bón lúc đầu do thức ăn sau đè lên thức ăn trước còn sau thì lại sệch lỏng, còn máu ứ trệ mà bị vỡ ra thì dẫn tới đại tiện ra máu. Khi thức ăn ẩm thấp bị tích tụ trong máu mà không lưu thông, vì chất nặng nên lâu ngày sẽ chảy xuống thận mà thành khí hư, đới hạ, viêm lộ tuyến của phụ nữ. Khi khí ở đại trực tràng bị tắt, không đi lên sẽ dẫn tới bị hãm xuống làm sa trực tràng, sa ruột, trĩ nội, trĩ ngoại, khí hãm trong máu xuống thì sa tử cung. Còn khí tắt lâu ngày sẽ dẫn đến huyết bị ứ làm dẫn đến đa dạng các loại bệnh từ đau đầu, đau ngực, nóng ngực, vã mồ hôi, mất ngủ, hay mơ, hồi hộp, phát sốt, mắt môi thâm vần v.v. Khí mà không thông lên mũi thì viêm mũi dị ứng, viêm xoang, bệnh lâu ngày tất gan thận cũng bị bệnh làm đau khớp, đau lưng, yếu cơ v.v rất đa dạng.

📍 Gia giảm các bệnh lâm sàng thường gặp. (Sách không viết)

1️⃣ Bệnh đại tràng mãn tính

Bệnh đại tràng mãn tính trong chứng của bài BTIK gốc là do thanh dương hạ hãm, nên hay hoa mắt chóng mặt do khí không thăng lên. Nhưng đa số bệnh lâu năm thường kèm các chứng của các vị thuốc như:

– Can khương trong chứng Tỳ dương hư tiêu lỏng, lạnh chân tay.

– Ngô thù du trong chứng can khí hoành nghịch, uất trệ làm đau sườn đắng miệng

– Thương truật, Bạch linh trong chứng thấp trệ tiêu lỏng sệch máu sẩm tối, tiểu vàng.

– Phá cổ chỉ trong chứng Tỳ Thận lưỡng hư gây đau lưng, lạnh chân, tiểu đêm v.v… lúc này thường tùy vào chứng mà có thể gia chung Can khương, Phụ tử, Phá cổ chỉ, Ngô thù du, Thương truật, Bạch linh và thường bỏ Đương Quy, nếu viêm đau thì không nên dùng Táo. Trong phương gia giảm có vị Phụ tử về nguyên tắt thì ít dùng bệnh ở trung tiêu, nhưng thực tế lâm sàng nhiều bệnh không có thì không trị được, thậm chí phải dùng nhiều 8g – 12g và tăng Cam thảo, Đẳng sâm, chích kỳ lên để hòa hoãn tính giáng mà tuyên thông huyết mạch của Phụ tử để giúp Sâm Kỳ phục hồi nguyên khí hậu thiên.

2️⃣ Bệnh hư nhược mệt mỏi mãn tính

Bệnh loại này nguồn gốc là do nguyên khí suy nhược, lâu ngày làm trung khí hư theo, khí hư thì bao giờ cũng có khí trệ, uất trệ ở gan thì có Hương phụ, Uất trệ ở thận tiểu tràng thì có Ô dược, và lâm sàng hay kết hợp cả 2 vị này vào tính hiệu quả trong việc giải khí uất, điều khí, thuận lại dòng khí sẽ rất cao. Vì trung tiêu là khu vực dưới hoành cách mô, và hai vị này được ứng dụng rất hiệu quả trong bài Cánh Hạ Trục Ứ Thang của cụ Vương Thanh Nhậm. Lúc này nếu bệnh nhân không có hiện tượng nóng thì nên gia thêm Phụ tử để tăng tác dụng tuyên thông bổ khí của bài thuốc. Vì khí trệ lâu ngày thì sẽ thành huyết ứ, nên lâm sàng thường có thêm biểu hiện của huyết ứ như người nóng sốt, đỗ mồ hôi, hồi hộp, đau tức ngực sườn, nhói tim v.v… Nếu ứ nhẹ thì thêm Xuyên khung, Xích thược, nếu nặng hơn thì thêm Hồng hoa, Đào nhân. Nhìn chung là gộp bài thuốc của hai cụ Lý Đông Viên và Vương Thanh Nhậm trong phác đồ điều trị giai đoạn đầu.

3️⃣ Bệnh viêm mũi dị ứng, viêm xoang

Không bị cảm mà nghẹt mũi thì đa số là do khí không thông lên, lâu ngày chỗ không thông đó bị tắt và uất, uất lâu sinh nhiệt, nhiệt bốc lên sẽ dẫn đến bị viêm mũi, viêm xoang. Nên nếu mũi nghẹt, hay dị ứng mà chưa viêm thì uống bài BTIK sẽ giúp khí được thăng lên, hơi thở được sâu thì một thời gian chứng nghẹt mũi, viêm mũi dị ứng sẽ hết. Còn khi bị viêm, phù nề trong chứng Bổ Trung thì phải có nhiệt độc, đa số nhiệt độc đó uất ở kinh dương minh vị, hoặc kinh thiếu dương đởm vì kinh dương minh chạy lên trong mũi, trán, vùng mặt còn kinh thiếu dương thì hiệp với dương minh tại vùng mặt. Nên ngoài uống bài thuốc Bổ Trung cần gia các vị phát tán như Ké đầu ngựa, Bạch chỉ, Khương hoạt, Phòng phong và phải có Hoàng cầm hoặc Chi tử để giáng cái nhiệt đi thuận xuống mới trị được. Ngoài ra có trường hợp ít phổ biến hơn là can tỳ thận bị bệnh, cũng sẽ dẫn đến đởm vị bị bệnh mà dẫn đến viêm mũi, viêm xoang, thuộc phạm vi bài thuốc khác.

4️⃣ Bệnh phụ khoa, khí hư, đới hạ

Tạng tỳ chủ vận hóa thủy thấp, phối hợp cùng Tâm, Phế, Thận, Bàng quang v.v… để trao đổi vận hành thủy dịch. Chứng bệnh trong bài Bổ Trung là do tỳ khí hư, khí hãm xuống, tỳ khí hư không giúp vận hành thủy dịch sinh thủy thấp, đàm ẩm v.v… Chính những ẩm thấp này đình đọng, lâu ngày lắng xuống thận bàng quang mà sinh ra các bệnh phụ khoa của phụ nữ. Đây là chứng bệnh của bài bổ trung gia các vị như Ý dĩ, Tỳ giải, Sa tiền tử; có Viêm nhiễm thì thêm Kim ngân hoa, Sà sàng tử, Ích mẫu v.v…

Trọng Hậu

Bài 5: Thuốc Lý Khí và Giáng Khí

Đường ruột dạ dày người bị bệnh tiêu hóa, thì niêm mạc cũng giống MIẾNG VẢI bị chôn trong đất bẩn lâu ngày kéo lên vậy. Thì miếng vải ấy sẽ có:

1. Đất (Thực tích)

2. Hơi ẩm và nước (Thấp tích)

3. Miếng vải bị nhăn (Khí tích)

Ngoài ra, tùy vào miếng vải được chôn ở Sahara hay Alaska mà có thêm miếng vải bị nóng hay lạnh (Nhiệt hay hàn). Hơn nữa, vì bên trong lớp niêm mạc ruột có các mạch máu đi nuôi dưỡng, nên khi lớp niêm mạc bị đất nước đè nén thì sẽ dẫn đến mạch máu lớp trong bị chèn ép theo mà ứ trệ, mạch máu bên trong cũng như cái ỐNG NƯỚC, bên trong có hơi nước tụ lại (Khí uất), ống nước bị bóp méo, rong rêu thì bám vào (Huyết ứ).

Để trị bệnh về tiêu hóa, theo YHCT thì ngoài việc dùng thuốc bổ ra thì phải có thuốc làm sạch miếng vải, làm thông thoáng ống nước mới trị tận gốc bệnh, thuốc đó gọi là thuốc LÝ KHÍ và GIÁNG KHÍ. Nếu miếng vải hay ống nước còn dơ bẩn mà chỉ uống thuốc bổ thì sẽ dơ bẩn thêm, bệnh sẽ nặng thêm. Nên tùy vào mức độ bệnh, giai đoạn bệnh mà sẽ có lúc dùng thuốc bổ hay thuốc làm sạch miếng vải và ống nước khác nhau. Mình mang chút kiến thức lâm sàng còn hạn hẹp chia sẽ nhóm thuốc này cho các mọi người, có điều gì chưa đúng thì các đồng sinh bổ sung thêm.

Muốn làm sạch miếng vải thì chúng ta phải đổ nước tẩy, đổ thêm nước nếu miếng vải khô, và vò cho chất bẩn, đất cát rớt ra thì quá trình này giống như là việc dùng vị thuốc Lý Khí như Trần bì, Mộc hương, Hương phụ, Sa nhân v.v… trong đó đứng số 1 là Mộc hương bắc, khí vị đậm lại có mùi hương nên tuyên thông tích khí, trệ khí rất hay, Mộc hương nam thì không có mùi hương, nhưng nhìn ngoài thì chất nặng màu đậm nên tính trầm giáng tốt hơn Mộc hương bắc. Nhưng điểm chú ý là sau khi rớt ra rồi, mà không đỗ chất dơ bẩn này ra ngoài theo đường đại tiện, tiểu tiện, thì chất bẩn ấy sẽ lưu lại và tiếp tục bám lại làm dơ miếng vải. Nên để thải chất bẩn này ra thì chúng ta dùng thuốc gọi là vị thuốc Giáng Khí như Chỉ thực, Hậu phác, Chỉ xác, Bình lang, Đại phúc bì v.v…

Nhược điểm của thuốc lý khí là làm tán khí, hao khí, mà tán khí thì dịch nhờn trong ruột cũng bị khí làm tán theo tứ phía, lúc này dịch nhờn không đi xuôi theo chiều dọc thuận, giúp việc tiêu hóa và bài tiết điều hòa nên dễ gây hiện tượng trướng bụng, bí đại tiện, nếu làm tán khí trong huyết dịch thì có thể dẫn đến bí tiểu tiện, còn nếu dùng kèm với thuốc nóng như Phụ tử, Can khương thì rất dễ tán hơi nóng này ra, gây bốc hỏa lên mặt làm nóng bụng, nóng mặt, điên loạn. Đây là điểm rất hay sai trên lâm sàng dùng thuốc khi mới vào nghề.

Nhược điểm của thuốc giáng khí là làm hư khí và gây đi đại tiện do việc kích thích ruột bài tích trệ ra ngoài. Nên để cải thiện việc gây đi đại tiện mà vẫn mở lối cho các khí bị tán ra do thuốc lý khí đi xuôi xuống thì dùng vị các thuốc có vị hậu đắng lạnh như Hoàng liên, Hoàng bá, khí trọc sẽ giáng xuống, âm khí sẽ được thuận v.v… Còn cải thiện khí hư thì dùng kèm thuốc bổ khí như Sâm, Kỳ, Truật, đây là khái niệm về Công – Bổ ai học y đều rõ cả.

Khi thức ăn, ẩm thấp tích trệ ở đường ruột lâu ngày (giống ủ phân) sẽ tạo môi trường kỵ khí mà sinh khí độc, sinh mụn lỡ trên đầu mặt, gốc bệnh là THẤP NHIỆT, bệnh này tập trung chữa ngoài da không hết được, mà phải trị cái thấp và cái nhiệt tích trong đường ruột nó mới hết. Khi khí độc này vào máu sẽ gây hiện tượng nóng lạnh sốt, nếu khí này tụ lại sẽ làm máu không thông gây ra hiện tượng khí huyết bị ứ trệ. Khí trệ giống bọt khí tụ trong ống nước vậy, đứng lâu sẽ làm nước không thông gây ứ, muốn tán nhỏ và cho lưu thông thì có một vị thuốc gọi là Hương phụ, còn muốn bài khí này ra ngoài luôn theo đường mồ hôi thì dùng Sài hồ, còn khí uất ứ lâu ngày sinh nhiệt làm nóng máu thì dùng Hoàng Cầm v.v… (Có nhiều cách khác nữa).

Về phối ngũ thì thường như sau, nên hiểu bản chất chứ không nên câu nệ vào.

1. Trần bì với Bán hạ (Đàm trệ)

Trần bì thì làm chất dơ trệ ở dạ dày ruột rớt xuống, Bán hạ thì cay hoạt như con lăn, mang chất dơ này lăn xuôi xuống thải ra ngoài theo đường đại tiện và tán hơi nước ẩm thấp vào huyết dịch xuống thận ra ngoài theo đường tiểu tiện. Nên Bán hạ có thể chữa được chứng thận bị khô (táo), do mang nước từ dạ dày ruột xuống thận, vì mang nước đi nên làm hao dịch nhờn mà dùng lâu dùng nhiều đại tiện sẽ bị bón. Ẩm thấp tích dưới dạ dày và ruột chính là nguồn sinh đàm ở cổ nên ẩm thấp này hết thì đàm ở cổ hết. Ngoài ra, thì cái nhìn về đàm ẩm theo YHCT rất rộng như gây ra các hiện tượng mỡ máu, hoa mắt chóng mặt nặng đầu v.v… đều thuộc đề tài khác.

2. Sa nhân với Mộc hương (Khí thấp trệ)

Sắc màu thì đậm, vị thì hậu nên hai vị này chủ yếu đi xuống ruột non, ruột già là chính. Kết hợp thì lực lý khí hóa thấp rất mạnh, ẩm thấp hết thì đường ruột khô ráo, đại tiện sẽ thành khuôn, nên bài Sâm linh bạch truật tán dùng vị Sa nhân giúp tăng tác dụng kiện tỳ hóa ẩm thấp là vậy. Hóa thấp khác với trừ thấp, táo thấp, điểm chính là lấy mùi hương làm tỉnh tỳ để hóa thấp như vị Hoắc hương, giống như vò vò cái tay theo chiều ngang, tán hương thơm chất tẩy vào làm chất dơ rớt ra ngoài, còn trừ thấp như Hậu phác là theo chiều dọc là chính nên nhiều khi những chất bẩn bám sâu trong khe, trong hẽm không rớt ra được, còn táo thấp là làm khô luôn nước như bài Bình vị tán, dùng không đúng sẽ công phạt, gây hại.

3. Thương truật, Trần bì với Hậu phác (Thấp trệ)

Giúp bài trừ nước và hơi nước tích ở dạ dày và ruột làm tiêu chảy ra ngoài. Mình có viết chi tiết trong bài Bình vị tán.

4. Chỉ thực với Hậu phác (Thực trệ)

Chuyên về tiêu thực, như bụng trướng, nỗi hòn cục, thức ăn tích trệ, ẩm thấp, không đi xuống gây đau, ứ lâu ở ruột sẽ sinh đàm ở cổ gây trở phế v.v. Chủ yếu là lấy vị đắng để giáng thức ăn, hơi nước xuống, chứ không bổ gì cả. Vì có thực tích, bí đại tiện thì phải làm sao cho đại tiện được trước, như ứng dụng các bài thuốc Đại thừa, Tiểu thừa, Chỉ truật hoàn, Chỉ thực tiêu bĩ v.v. Chủ yếu là trừ thực tích thấp tích gây bĩ mãn nên tập trung giáng thực tà theo chiều dọc, chứ không dùng thuốc lý khí theo chiều ngang sẽ hao khí, tán khí gây hại thêm.

Ngoài ra thì có nhiều cách phối chung khác, như Hương phụ với Ô dước, hay chia ra thượng tiêu, trung tiêu hay hạ tiêu mà dùng thuốc. Ví dụ: Thượng tiêu chất nhẹ thì Trần bì với Chỉ xác như bài Chỉ Quất Thang; Trung tiêu chất trầm thì Hương phụ, Mộc hương như bài Mộc Hương Phá Khí Tán hay Hạ tiêu chất nặng như Bình lang, Trầm hương như bài Tứ Ma Thang v.v Cũng dài, nên tạm dừng ở đây.

Trọng Hậu

Bài 6: Quy Tỳ Thang

(Phương thuốc nổi tiếng trị chán ăn mất ngủ! Cũng như các bệnh lý về tim như loạn nhịp tim, hở van tim, suy tim)

Với sự phát triển của YHHĐ, trong phẩu thuật ghép tim, lúc đem tim ra ngoài và quan sát chúng ta dễ dàng thấy rằng tim vẫn đập. Điều đó chứng tỏ rằng có máu hay không có máu thì ở trạng thái bình thường tim vẫn đập. Vì trạng thái BÌNH THƯỜNG tim luôn đập không đổi và dung tích chứa máu đi qua tim cũng không đổi, nên các bệnh về tim phát sinh chủ yếu là do:

1. Lưu lượng máu (Mạnh hay yếu)

2. Chất lượng máu (Mỡ máu, ứ máu)

3. Nhiệt độ máu (Nóng hay lạnh)

Theo YHCT từ (1), (2) và (3) đã phát hiện ra bệnh lý sớm vì đã thể hiện qua các triệu chứng như: nhói tim, hồi hộp, hoa mắt, chóng mặt, đêm ngủ hay mơ mộng mị, hay quên, trí nhớ giảm sút, tâm phiền, nóng sốt v.v… Khi các triệu chứng này kéo dài trong nhiều năm sẽ dẫn đến hệ quả là các bệnh lý về tim như loạn nhịp tim, hở van tim, suy tim v.v…

♦️ Bệnh tim theo lý luận YHCT hơi khó hiểu, nên để dễ hiểu cho mọi người, thì tôi xem Tim như ĐẦU MÁY BƠM NƯỚC

1. Khi hụt nước (thiếu máu) thì đầu máy sẽ bơm không điều hòa, lúc nhiều lúc ít. Nên vùng tim có cảm giác hay hồi hộp, nhói tim gọi là “tâm huyết hư“, tức máu qua tim không đủ.

2. Khi hụt nước lâu ngày, thì trong máy bơm thường ở trạng thái nhiều khí mà thiếu nước nên máy sẽ bị thêm nóng. Nên ngoài chứng hồi hộp, nhói tim, sẽ cảm giác tâm phiền, ngủ hay mộng mị, người nóng tức là máu thiếu, lại sinh nóng.

3. Khi nước dẫn lên máy bơm chứa nhiều rong rêu (ứ huyết trong huyết cầu, đàm trệ ví dụ như mỡ máu hữu hình trong huyết tương) hoặc ống dẫn bám đầy bùn đất (mỡ bám trong thành mạch) sẽ dẫn đến lưu lượng nước đi qua máy bơm thay đổi làm tăng lực cản lên ảnh hưởng đến tốc độ xoay máy bơm nên gây đau tức ngực, khó thở, tim đập nhanh, thiếu máu cơ tim, loạn nhịp tim, hở van tim v.v.

4. Máy bơm hoạt động không tốt lâu ngày, hoặc hết tuổi thọ (tuổi già) dẫn đến tốc độ quay máy bơm bị suy giảm gọi là tâm khí hư, tức máu đã thiếu rồi mà khí cũng thiếu không đủ đẩy máu đi lên nên sắc mặt thường xanh xao, uể ỏi, sợ gió lạnh, đỗ mồ hôi, hụt hơi, dễ ngất xỉu hay gặp ở bệnh lý suy tim v.v…

Đây là các thể bệnh thường gặp. Nên nguyên tắt điều trị bệnh về tim theo YHCT là làm sao để lượng máu đi qua tim điều hòa. Ví dụ như thiếu máu thì làm tăng máu lên, thiếu khí đẩy máu thì tăng khí lên, máu ứ làm tắt nghẽn thì trục ứ làm cho hết ứ, máu nóng thì làm cho mát v.v từ đó mà điều trị được bệnh tim.

Trong đông y có một bài thuốc hay dùng để điều trị các bệnh lý về tim đó chính là bài Quy Tỳ Thang gia giảm, trong đó gia giảm quan trọng hơn phương thang, mà giảm khó hơn gia, muốn gia giảm tốt, đúng hàm lượng thì phải rõ khí vị dược lý lâm sàng của thuốc và bệnh lý của bệnh nhân, khi rõ thì thuốc tốt, thuốc đắt tiền, thuốc nhập không quá quan trọng. Nên ngày xưa có nhiều thầy dùng thuốc nam rẻ tiền, nhưng nhờ hiểu rõ khí vị, hàm lượng lâm sàng, hiểu rõ bệnh lý vẫn trị được nhiều bệnh khó. Nên nếu ngày nay chúng ta không trị được bệnh thì không phải do thuốc kém thuốc giả, mà là chính yếu là do sở học của bản thân còn kém, không chuẩn bệnh chính xác, dược lý lâm sàng còn yếu, còn phụ thuộc vào phương thang cứng nhắc trong sách.

♦️ Phân tích bài Quy Tỳ Thang.

Quy tỳ thang là phương thang của cụ Nghiêm Dụng Hòa, là kết hợp của bài Tứ quân tử thang + Đương quy bổ huyết thang gia Toán táo nhân, Long nhãn nhục, Viễn chí, Mộc hương đổi Phục linh sang Phục thần để bổ 3 tạng tâm can tỳ, trong đó quy về bổ tỳ là chính nên đặt tên là Quy Tỳ. Nhưng căn cứ vào chứng trạng, hiệu rõ được phương thang mà gia giảm thì có thể chuyển đổi thành Quy Can, Quy Tâm đều được. Dễ hiểu thì tâm can tỳ như ba đỉnh của hình TAM GIÁC.

Tâm là đỉnh điểm A, chủ huyết.
Tỳ là điểm B bên phải, sinh huyết.
Can là điểm C bên trái, tàng và sơ tiết huyết.

Bài Tứ quân bổ tỳ vị giúp tỳ sinh huyết, Đương quy vị cay thơm bổ huyết ba tạng tâm can tỳ, lại được Hoàng kỳ bổ khí trong huyết, khí hành giúp huyết hành mà tăng tác dụng bổ huyết của Đương quy, từ đó giúp huyết sinh ra từ Tỳ điểm B, lại nhờ vị cay đắng thơm của Đương quy và tính thăng phát của Hoàng Kỳ mà kéo qua điểm C sau đó đi lên tâm điểm A, lại nhờ Toan táo nhân vị chua nhập tâm can tỳ, mà liễm giữ cho máu ở lại tâm lâu hơn, được Long nhãn nhục đè những khí động trong máu của Đương quy tán ra ở tâm giúp máu chảy dịu êm lại kết hợp với Phục thần mà làm cho máu qua tâm điều hòa, lại được Viễn chí vị đắng tiết nhiệt ra ngoài làm dòng máu qua tâm không nóng từ đó tăng tác dụng dưỡng tâm an thần, lại được Mộc Hương vị đắng vào tâm giáng xuống, tính sơ thông, hương thơm nồng nhập tỳ, hướng về tỳ nên đặt tên là Quy Tỳ (Can Mộc > Tâm Hỏa > Tỳ Thổ). Điểm hay là dùng Mộc hương rất ít, lấy khí vị là chính, vì dùng nhiều quá thì tả tâm, tán khí lại hao tổn tân dịch mà giảm tính nhu nhuận của tỳ thổ.

♦️ Gia giảm:

Khi nhắc đến Quy Tỳ thì tôi nghĩ ngay đến chán ăn mà KHÓ NGỦ mộng mị, nếu chứng gốc là chán ăn thì cứ đúng nguyên phương mà dùng, không cần gia giảm nhiều. Còn chứng khó ngủ, mộng mị bản chất là do Khí- Huyết – Nhiệt chảy qua tim không điều hòa, tức dòng nước nó không êm đềm, cứ sục sôi, mạnh, yếu (do thiếu, do ứ trệ) thì sao mà ngủ. Nhưng trị thì phải xem nguồn gốc từ đâu mà dẫn đến.

Ví dụ:

Can đởm chủ quyết đoán, mưu lự, thanh niên ngày nay đa số suy nghĩ mưu cầu nhiều, phụ nữ thì cũng lo nghĩ lại hay ưu sầu uất giận, kết quả là làm cho can khí bị uất kết (tính nóng dễ giận sườn đau miệng đắng v.v), uất lâu sinh huyết ứ, sinh huyết nhiệt, nhiệt khí theo mạch máu bốc lên tâm làm dòng máu qua tâm bị nóng dẫn đến mất ngủ. Vậy thì mất ngủ này gốc là do can sinh ra phải sơ can giải uất, hoạt huyết khử ứ, thanh nhiệt v.v… kết hợp giảm suy tư, mưu cầu làm chính mới trị được. Có người mất ngủ là tuổi già yếu hay thanh niên thủ dâm thận thủy suy kiệt, thận thủy như đầu nguồn nước, chảy về gan là cái hồ nước, nguồn không có nước thì hồ nước cũng khô, tâm hỏa như nhiệt độ, phế kim như độ ẩm trong không khí, thì tất nhiên là khí nóng bốc lên mà làm tâm nhiệt gây mộng mị khó ngủ, phế kim thì độ ẩm giảm nên họng khô cổ khát. Chữa trị thì tùy giai đoạn mà phải đổ nước vào nguồn, phun sương làm mát không khí ở trên v.v…

Còn mất ngủ trong bài Quy Tỳ, chủ yếu là dùng thuốc thuần tĩnh, để giúp máu chảy qua tâm dịu êm điều hòa lại thì sẽ dễ ngủ nên chủ yếu là gia: Dạ Giao Đằng, Bá Tử Nhân bội Long Nhãn, Viễn Chí, còn tâm hỏa khắc phế kim làm người nóng khát nhiều mồ hôi thì phải gia thêm Mạch môn, Ngũ vị, nặng thời gia Long cốt, Mẫu lệ v.v. Ngoài ra, trong bài Quy tỳ có vị Bạch truật, Mộc hương trợ dương cho tỳ thổ, tỳ thổ mà nóng thì sẽ làm tâm hỏa nóng thêm, vị Hoàng kỳ, Đẳng sâm thì trợ khí lực, Đương quy thì trợ huyết lực, làm dòng máu qua tim chảy mạnh mà tăng nhịp tim nên trong bệnh TIM NÓNG, đập nhanh, người nóng khát, môi miệng lỡ loét, lưỡi khô ráo thì nên bỏ đi các vị này mà gia thêm các vị như Sinh Địa, Huyền Sâm, Hoàng Liên, Tri Mẫu v.v… Lúc này sẽ không còn là bài Quy Tỳ nữa.

Ngược lại trong bệnh SUY TIM, chủ yếu là do tâm huyết thiếu lâu ngày không giữ được khí, làm tâm khí không đủ đẩy máu đi xa, bị thoát nên người mới dễ toát mồ hôi (hãn chứng), khi toát mồ hôi thì huyết thiếu nên người lại nóng, tê bì chân tay (do khí thoát không đẩy được huyết), người mệt mỏi xanh xao nên cần tăng thêm các vị như Đẳng sâm, Hoàng kỳ, Chích Cam thảo để tăng khí lực đẩy huyết lên tim, lại gia Ngũ vị, nặng thì Long cốt, Mẫu lệ, Phù Tiểu mạch để liễm lại. Còn Tim suy do nguồn thận thủy suy, thận khí bên dưới không đẩy khí lên đủ thì tất nhiên phải gia thêm các vị như Thục địa, Phụ tử, loạn nhịp tim thì thêm Thạch Xương bồ để điều hòa lại nhịp tim. Sau khi gia giảm thì bài Quy Tỳ chuyển thành bài khác, do đó không nên buộc hạn bản thân vào bất cứ phương thang nào, mà chỉ căn cứ vào chứng trạng, mạch lý mà dụng dược.

Ngoài ra cũng hay gặp ở chứng tâm hỏa nhiệt quá mà khắc phế kim (hỏa khắc kim), khiển phổi khô gây ho và đồ mồ hôi, thì hay gia thêm Ngũ vị và Mạch môn. Ngũ vị hợp với Đẳng sâm chuyên đại bổ nguyên khí, liễm hãn, liễm tâm âm bổ tâm khí. Nếu bổ khí sinh tân, có Sâm thì đa phần đều gia Ngũ vị, còn trong thuốc tư âm, nếu có Ngũ vị thì đa số là có Mạch môn, tăng tác dụng tư âm thì hay gia thêm Thục địa, Kỷ tử.

Còn chứng mất ngủ, loạn nhịp tim do gan nhiễm mỡ, máu nhiễm mỡ, huyết áp cao, tiểu đường, thành mạch bám mỡ thì tất nhiên không uống Quy tỳ được vì gốc bệnh này chủ yếu do gan tỳ thận chuyển hóa bị suy yếu, phải xem gốc ở đâu mà chữa ở đó, chủ yếu do tỳ hư can khí uất trệ, bệnh lâu ngày thì ảnh hưởng đến thận, cuối cùng thì ảnh hưởng đến tim.

Trọng Hậu

Bài 4: Nhóm Thuốc Bổ Trị Bệnh Tiêu Hóa

Hệ tiêu hóa trong Đông y gọi là Tỳ Vị, thuộc hành Thổ. Trong đó Vị thổ thuộc quẻ Cấn, là núi, đất nhô ở trên; Tỳ Thổ thuộc quẻ Khôn, là đất ở dưới. Vị (dạ dày) là đất ở trên nên hay bị Mặt trời truyền nhiệt độ làm nắng nóng (Tâm hỏa sinh Vị thổ) làm đất khô nóng nên Dạ dày thích mát. Tỳ tương ứng tụy tạng và lá lách, nhưng dễ hiểu thì xem như đường ruột ở dưới dạ dày, vì đất ở dưới nên hay bị nước thấm lên gây ẩm ướt nên tỳ thích ấm và khô ráo.

Đường ruột thì tồn tại: 1. Lớp dịch nhờn 2. Thành ruột 3. Hệ thống mạch máu.

1. Lớp dịch nhờn

Đông y gọi là (tân dịch), có 3 vị thuốc hay dùng trong ảnh là Đẳng sâm, Đại táo, và Thục địa giúp đường ruột sinh tân dịch, làm trơn nhờn dễ nhu động để thức ăn đi qua dễ dàng, ngoài ra thì còn có Long nhãn, Sa sâm, Đương quy v.v… Trong đó, Đẳng sâm nhìn bề ngoài thì chất nó nhẹ quy kinh Tỳ Phế Vị, Tỳ vị là đất, Phế kim là không khí ở trên, nên Đẳng sâm như nước dinh dưỡng loãng nhẹ, đỗ xuống đất thì thấm chủ yếu trên bề mặt đất và bốc hơi lên không khí nên gọi là “Ích khí”, nên Đẳng sâm là vị thuốc hiếm hoi dưỡng vị mà không gây thấp hại tỳ. Nên đường ruột dơ bẩn, nhiều thực thấp, nếu dùng thuốc cay khô đắng để tiêu thực trừ, táo thấp thì hay làm mất dịch nhờn đường ruột, để không mất thì hay thêm vị Đẳng sâm, nên Đẳng sâm có tính “phù chính khu tà”, tiêu biểu là bài Tiểu sài hồ, các bài thuốc lý khí cay nóng v.v…

Đại táo thì chất nặng hơn đẳng sâm nên nhập tỳ vị chứ không bốc lên Phế kim, bên trong lại có sắc đỏ nên ích được huyết, giống như nước dinh dưỡng hơi đậm đặc, đỗ lên đất thì chảy chậm rãi, từ từ thấm nhuần sâu xuống bên dưới mà không bay hơi bốc lên không khí, nên tính nó hơi dính trệ dễ sinh thấp, cũng như các món ăn xôi, nếp, sữa tươi, chè, trứng vịt lộn, cá nhiều béo, nếu ăn nhiều sẽ nê nặng bụng, ì ạch khó tiêu, để hạn chế tính nê trệ thì hay thêm Gừng vào Táo, vì Táo chỉ quy kinh tỳ vị, nên các thuốc khô cay táo chữa bệnh tỳ vị như Bình Vị hay gia thêm Táo và Gừng để bảo vệ tân dịch.

Thục địa thì nhìn ngoài và cầm tay là nặng nhất, sắc đen sậm, vì nặng nhất nên đi xuống sâu nhất, qua mặt đất, xuống lòng đất (Rễ cây thuộc can mộc), xuống đáy đất (Thận thủy), nên Thục địa không những sinh tân dịch, thấm qua đất mà bổ Tỳ âm, rồi nhuận sâu xuống bổ can thận, giống nước dinh dưỡng rất đặc đỗ lên mặt đất, nếu đất khô ráo thì tốt, mà đất ẩm ướt thì gây ủng trệ gây trướng bụng, khó tiêu, chán ăn thì bệnh nặng thêm, muốn ít ủng trệ thì phải thêm vị Bạch linh, như làm đất, sấy đất cho thông thoáng, cho nước dễ trôi qua.

Nên người bị bệnh tiêu hóa, đường ruột yếu, cái chính không phải là uống thuốc, mà là kiêng cử, giảm các thức ăn khó tiêu gây nê trệ như đã nói ở trên, tốt nhất là ăn Thanh Đạm.

2. Thành ruột

Thành ruột thì như đất, chia ra dày hay mỏng, trọng lượng nặng hay nhẹ. Người bị ruột sôi, phân lỏng sệch, bụng ì ạch khó tiêu thường do thành ruột nó bị nhẹ và mỏng lại thêm lạnh.
Bạch truật nó làm đất ấm và cô đặc lại nên gọi “Kiện tỳ”, vì ấm và cô đặc nên phải trừ đi hơi ẩm trong đất nên gọi là “táo thấp”, mà Tỳ thì thích ấm, ghét thấp nên Bạch truật là vị thuốc số 1 bổ Tỳ, bệnh đường ruột, đại tràng thuốc nào cũng vậy, luôn có Bạch truật, để ruột nó trừ đi hơi nước, thành ruột nó chắt lại để không bị đi phân lỏng sệch v.v. Còn bệnh Dạ dày thì ít dùng Bạch truật hơn, vì dạ dày thích mát và ẩm ướt, nên nếu dùng thì phải phối thêm vị ẩm ướt sinh tân dịch.

Hoài sơn thì bổ Tỳ âm, tức làm đất dày lên, cũng như đỗ đất cho cao lên. Thục địa, Đương quy cũng bổ Tỳ âm, nhưng là đỗ nước đặc, còn Hoài sơn là đỗ đất. Nhưng đất hơi ẩm một tý nên bốc hơi lên mà ích Phế khí. Vị hơi mặn nhạt nên thấm xuống bổ được thận nếu đi kèm Thục địa, Bạch linh như Bát vị, Lục vị. Bệnh ruột kích thích, và Đại tràng chủ yếu là do đất nó yếu và mỏng, nên hay dùng cùng lúc Bạch truật trị cái yếu và Hoài sơn bồi cái mỏng như bài Sâm Linh Bạch Truật Tán và các thuốc Đại tràng trên thị trường. Mục đích của vị Đẳng sâm và Trần bì hay Đại táo trong các thuốc này là giúp cho bổ Tỳ, nhuận thấm làm đất không quá khô táo mà mất đi đức Khôn là chăm sóc và nuôi dưỡng vạn vật của hành Thổ. Cũng như người Phụ Nữ thuộc quẻ Khôn, nếu giữ được Thiên Tính là nhu mềm, chăm sóc con cái gia đình, thì gia đình đó thường hòa thuận hạnh phúc hơn các gia đình mà không có Thiên tính của người phụ nữ.

Trọng Hậu

Bài 3: Bình Vị Tán

(Phương thuốc điển hình trị dạ dày do ăn uống đạm thịt, rượu bia)

Thương truật 12g

Trần bì 4 – 12g

Hậu phác 4 – 12g

Cam thảo 4g

Album này mình tạo ra, nhầm đem chút hiểu biết nhỏ của bản thân ra chia sẽ cho các đồng sinh những điều về kiến thức lâm sàng, mà ở trường, ở sách vở ít có. Mấy em học y hay nhắn tin hỏi mình thấy điều gì hữu ích thì mang nó về cho bản thân, ứng dụng và giúp mọi người nhé.

Trước tiên muốn hiểu Bình Vị Tán, phải hiểu vị Thương truật trước, đó là “Tính ấm, vị đắng, cay, thơm“. Ấm thì trừ hàn thấp, đắng thì giáng xuống, cay thì tán ra, thơm thì tĩnh tỳ. So với Bạch truật thì Thương truật “chạy chứ không giữ“, nghĩa ra nó đẩy toàn bộ thức ăn, nước đọng, ở dạ dày, đường ruột ra ngoài theo đường đại tiện, nhưng vì tính ấm, thơm khô ráo nên nếu lạm dụng, dùng lâu, dùng không đúng bệnh sẽ làm hao dịch nhờn (tân dịch) làm khô đường ruột, làm ruột mất đức khôn mà kém nhu động, tiêu hóa hấp thu. Ngoài ra Thương truật vị cay, nên tán theo chiều ngang, đẩy khí vào vận hành máu ở gan, hành can khí, khí đẩy máu đi nhanh mà làm đỗ mồ hôi, nhìn rộng ra thì bổ được cho can khí, giải được can khí uất gây đau tức hạ sườn v.v. Bạch truật thì ngược lại, đi theo chiều dọc xổ xuống, hòa hoãn, bổ giữ thì nhiều, mà chạy thì ít, dùng với Bạch linh thì thấm xuống theo chiều dọc mạnh hơn, phạt tà ở gan, kiện tỳ thổ, liễm mồ hôi.

Hậu phác thì nóng đắng là chính, giúp Thương truật đẩy nhanh ẩm thấp, thực trệ xuống, điểm khác là Hậu phác không có mùi thơm, cũng không quá cay, để tán khí thấp vào máu, hành can khí làm ra mồ hôi như Thương truật. Hậu phác chủ yếu là đắng khô nóng, xác vỏ cây như vỏ nhục quế nên khá nóng và trừ hàn ở đường ruột, gây tiêu chảy, sôi bụng v.v là chính. Trần bì thì lý khí hóa trệ, nhiều tinh dầu nên giúp ruột trơn, khí vị đa dạng, phụ thuộc vào thuốc chính mà nó đi theo, thuốc nặng đắng giáng thì nó đi xuống như thuốc đại tràng khi đi kèm với Hoàng liên, Bạch truật, mà nhẹ cay tán thì nó đi lên như thuốc trị ho ở phế với Cát cánh v.v. Cam thảo trong Bình Vị Tán thì thường ít, thậm chí bỏ luôn nếu thực trệ, trướng bụng, khó tiêu nhiều. Vì Cam thảo nó giữ ở tỳ vị, nên bài Tứ Quân có Sâm Truật bổ là chính nên cần dùng nhiều Cam thảo để bồi bồ, còn bài Bình Vị thì ngược lại, Thương truật, Hậu phác là giáng chạy là chính nên Cam thảo phải ít.

* Điểm chú ý thường dùng:

– Thêm Sâm, Táo thì đỡ được cái hao tân dịch, không làm khô ruột.

– Thêm Mộc hương, Sa nhân thì tăng tính hóa thấp mạnh.

– Thêm Bạch linh, Bán hạ thì tăng tiêu đờm thấp.

– Thêm Sâm, Kỳ, Thăng, Sài thì gần giống bài Điều trung ích khí thang.

– Thêm Hoàng liên, Ngô thù thì trừ được cái thấp nhiệt uất gây đắng miệng, hôi miệng, hôi nách v.v hay gặp ở các bệnh Viêm dạ dày, vi khuẩn HP do ăn nhiều đạm thịt cá, rượu bia.

Trọng Hậu

Bài 1: Tứ Quân Tử Thang

Ứng dụng trị Thiếu máu, Viêm đại tràng v.v…

Mình chia sẽ cách học phương thuốc cho những em sinh viên, các đồng nghiệp cũng như ai yêu thích Đông y. Vì trong sách hay ở trường thường bị lập khuôn nên khó mà dạy cho thấu rõ hết. Đầu tiên muốn trị bệnh tiêu hóa, chúng ta phải hiểu Tỳ và Vị trước. Tỳ Vị thuộc hành Thổ, ứng với quẻ Khôn, Vị là Dạ dày giống như đất ở trên bề mặt, còn Tỳ thì là đất ở dưới lòng đất. Vì đất ở trên thì hay bị Mắt trời (Tâm) chiếu nên hay bị khô nóng, đất bên dưới thì hay bị nước (Thận thủy) thấm nên hay ẩm ướt. Do đó, Vị (dạ dày) bị nóng khô mà thích mát và ẩm ướt; Tỳ hay bị ẩm ướt mà thích khô ráo.

☆ Phân tích bài Tứ quân tử thang

▪︎ Đảng sâm: Nhìn ở ngoài chất hơi nhuận, nhiều nước nên thiên về bổ Vị. Giống nước tưới lên đất thì dể bay hơi lên nên nhuận cho Vị mà bốc hơi lên bổ cho Phế kim.

▪︎ Bạch truật: Thì hơi nóng, chất thì khô ráo nên thiên về bổ Tỳ, làm đất được ấm mà nước tự lui.

▪︎ Bạch linh: Thì hút ẩm thấp, làm đất ráo khô nước đi nên là bổ tỳ (Hút hết nước thì hại Vị).

▪︎ Cam thảo: Thang này chủ yếu là thuốc dẫn.

》 Vậy liên tưởng như thế nào cho dễ học?

Nếu liên tưởng Dạ dày, Ruột như cái khăn ẩm ướt. Thì Cam thảo như cái tay giữ chặt cái khăn; Bạch truật như tay kia cầm chặt rồi duốt xuống cho khô hết nước; Bạch linh thì giống máy hút các chất ẩm còn lại. Lúc này Dạ dày với Ruột sẽ khô và ráo hết nước. Bài này gia Quế chi để tăng tính nóng, nhập Bàng quang để vận hành thủy làm tăng tác dụng rút ẩm thấp ra ngoài gọi là bài thuốc Linh Quế Truật Cam thang ứng dụng trị bệnh Tim hồi hộp, Đầu choáng, Ho do Tỳ hư, đàm ẩm (nước tích ở ruột). Nhưng mà nếu uống như này mãi thì ruột sẽ bị khô, mất đi tính nhu nhuận của quẻ Khôn nên mới gia vị Đẳng sâm có tính nhuận ẩm (Bỏ miệng nhai ngọt và nhiều nước), giúp ruột nhu động tốt, ruột nhu động tốt thì tiêu hóa tốt, hấp thụ thức ăn tốt, thì sinh được máu tốt. Chính là Bài Tứ Quân Tử Thang trị bệnh chán ăn, trướng bụng khó tiêu v.v. mà Tây y không hiểu cứ cho uống Vitamin, Fe, B12 v.v…

》 Vậy biến hóa ứng dụng trị bệnh Viêm Đại Tràng như thế nào?

Bệnh Viêm đại tràng, đã gọi là “Viêm” thì phải có vi khuẩn như Lỵ mip, shigella, vi khuẩn E.coli v.v nên thường gia thêm bài thuốc Hương liên hoàn có vị Hoàng liên chứa hoạt chất Beririn để diệt khuẩn; khi bệnh lâu ngày thì thức ăn chất bẩn tích tụ nên gia thêm các vị tiêu thực như Mạch nha, Thần khúc, Sơn tra để cho tan chất dơ trong ruột đi; Vừa lý khí vừa tan chất dơ đi thì ruột bị mỏng đi nên đưa thêm vị Hoài sơn bổ tỳ âm vào. Đây chính là ứng dụng thuốc trị Viêm đại tràng Đông y trên thị trường như Đại tràng Tâm Bình, Bà Giằng, BH, Khang v.v. Nhưng bệnh lâu ngày trị không bao giờ hết được, vì nó liên quan đến Tâm, Can, Phế Thận nữa.

📌Vì tâm phải giáng xuống thì thận mới ấm; “Thận chủ nhị tiện” (Đại tiện và tiểu tiện), nên thận ấm thì mới hút hết ẩm thấp ở Đại trường, thận ấm sẽ giúp Bàng bàng quang ấm, Bàng quang ấm thì vận hành được nước, thủy thấp từ Đại trường sẽ ra ngoài theo đường tiểu kết quả lại đại tiện sẽ thực mà thành khuôn đấy chính là ứng dụng bài Tứ Thần Hoàn. Ngoài Thận ấm ra thì gan phải điều tiết, phải đưa máu xuống nuôi Đại trường, nên mới ứng Bạch thược, Ngô thù, Hoàng liên để kéo máu của gan bốc lên xuống mà trên hết nóng đau đầu, dưới hết lạnh là thế. Ngoài ra thì “Phế chủ túc giáng“, khí giáng thì ẩm thấp dưới Đại trường mới rút ra, đấy chính là ứng dụng vị Cát cánh trong bài Sâm Linh Bạch Truật Tán. Ngoài ra có một trường hơp bệnh cùng lúc Thận Gan Phế Bàng Quang mà dùng vị Tế tân, Ngô thù với Lý Trung bỏ Thảo để trị. Vì Tế tân nhập phế giúp giáng khí, lại ấm thận, Ngô thù ấm gan trị chứng gan khí hoành nghịch, lại nhập làm ấm Bàng quang làm thủy vận mà hết bệnh.

Trọng Hậu

Tiểu Sài Hồ Thang (Thương hàn luận)

* Thành phần:

– Sài hồ 12 – 16g

– Hoàng cầm 8 – 12g

– Bán hạ 8 – 12g

– Đảng sâm 8 – 12g

– Sinh khương 8 – 12g

– Chích Cam thảo 4 – 8g

– Đại táo 4 quả

* Cách dùng:

Sắc nước uống.

* Tác dụng:

– Hòa giải thiếu dương, sơ Can lý Tỳ, điều hòa Tỳ Vị.

* Giải thích bài thuốc:

– Sài hồ có tác dụng sơ thông khí cơ, thấu đạt tà khí ở thiếu dương là chủ dược.

– Hoàng cầm: Tả uất nhiệt ở thiếu dương hợp với Sài hồ chữa được chứng hàn nhiệt vãng lai, ngực sườn đầy tức, bứt rứt khó chịu, chứng bệnh thường là do cơ thể hư hoặc chữa nhầm làm tổn thương chính khí, tà khí nhập vào thiếu dương gây bệnh.

– Đảng sâm, Cam thảo, Đại táo để ích khí điều trung, phò chính khu tà.

– Bán hạ, Sinh khương, Đại táo cùng dùng có thể điều hòa dinh vệ, hàn nhiệt vãng lai.

* Ứng dụng lâm sàng:

– Bài thuốc này chủ trị hội chứng bệnh thiếu dương.

– Trường hợp dùng trị chứng sốt rét do phong hàn gia thêm Thường sơn (sao rượu), Thảo quả.

– Trường hợp bệnh nhiệt ở thiếu dương nhập vào huyết gây sốt thương âm gia thêm Sinh địa, Đơn bì, Tần giao để lương huyết dưỡng âm.

– Nếu có triệu chứng ứ huyết, bụng dưới đầy tức đau (thường gặp ở sản phụ sau đẻ) bỏ Sâm, Thảo, Táo gia Diên hồ sách, Đương quy, Đào nhân để hóa ứ.

– Trường hợp có hàn gia Nhục quế tâm để trừ hàn, có khí trệ gia thêm Hương phụ chế, Trần bì, Chỉ xác để hành khí.

Nguồn: y học căn bản.

Tứ Nghịch Thang (Thương hàn luận)

* Thành phần:

– Thục Phụ tử 10 – 20g

– Chích thảo 4 – 8g

– Can khương 8 – 12g

* Cách dùng:

Sắc nước uống.

* Tác dụng:

– Hồi dương cứu nghịch.

* Giải thích bài thuốc:

– Thục Phụ tử tính vị cay, đại nhiệt, ôn phát dương phát dương khí, khu tán hàn tà là chủ dược.

– Can khương ôn trung tán hàn hợp với Phụ tử gia tăng tác dụng hồi dương.

– Chích thảo ôn dưỡng dương khí làm giảm bớt tính cay nóng của Khương, Phụ.

* Ứng dụng lâm sàng:

– Bài thuốc trị các chứng bệnh ở Thiếu âm dương khí suy kiệt âm hàn nội thịnh sinh ra chân tay quyết lạnh, nằm co sợ lạnh, tinh thần mệt mỏi thích nằm hoặc đại tiện lỏng nước trong, bụng đau lạnh, miệng nhạt không khát, lưỡi tái rêu trắng, mạch trầm vi khó bắt hoặc do chứng dùng thuốc phát hãn quá mạnh gây nên chứng vong dương, bệnh tùy nặng nhẹ mà sử dụng bài thuốc có gia giảm.

– Trường hợp tay chân quyết lạnh do chứng tiêu chảy nặng do mất nước âm dịch suy vong nên dùng bài thuốc gia thêm Nhân sâm gọi là bài TỨ NGHỊCH NHÂN SÂM THANG để hồi dương cứu âm.

– Trường hợp bệnh Thiếu âm tả lỵ, chân tay quyết lạnh, mạch vi khó bắt, dùng bài Tứ nghịch thang bội Can khương gọi là bài THÔNG MẠCH TỨ NGHỊCH THANG (Thương hàn luận) để ôn lý, thông dương mạnh hơn.

– Trường hợp bệnh thiếu âm hạ lợi, chân tay quyết nghịch, mặt đỏ, mạch vi là chứng âm hàn thịnh ở dưới, bức hư xông lên có thể dùng Tứ nghịch thang gia Thông bạch bỏ Cam thảo gọi là bài BẠCH THÔNG THANG (Thông hàn luận) để thông dương phục mạch.

– Trường hợp hạ lợi không cầm, mặt đỏ, nôn khan, bứt rứt chân tay, quyết nghịch, mạch không bắt được dùng Bạch thông thang gia thêm nước tiểu người, nước mật heo gọi là bài BẠCH THÔNG GIA CHƯ ĐẢM THANG (Thương hàn luận).

Nguồn: y học căn bản.

Độc Hoạt Tang Ký Sinh Thang (Thiên Kim Phương)

* Thành phần:

– Độc hoạt 8 – 12g

– Phòng phong 8 – 12g

– Bạch thược 12 – 16g

– Đỗ trọng 12 – 16g

– Phục linh 12 – 16g

– Tang ký sinh 12 – 24g

– Tế tân 4 – 8g

– Xuyên khung 6 – 12g

– Ngưu tất 12 – 16g

– Chích thảo 4g

– Tần giao 8 – 12g

– Đương qui 12 -16g

– Địa hoàng 16 – 24g

– Đảng sâm 12 – 16g

– Quế tâm 4g

* Cách dùng:

Sắc nước uống, chia 2 lần trong ngày.

* Tác dụng:

– Trừ phong thấp, giảm đau, dưỡng can thận, bổ khí huyết.

* Giải thích bài thuốc:

– Độc hoạt, Tang ký sinh: Khu phong trừ thấp, dưỡng huyết hòa vinh, hoạt lạc thông tý là chủ dược.

– Ngưu tất, Đỗ trọng, Thục địa: Bổ ích can thận, cường cân tráng cốt.

– Xuyên khung, Đương qui, Thược dược: Bổ huyết, hoạt huyết.

– Đảng sâm, Phục linh, Cam thảo: Ích khí kiện tỳ đều có tác dụng trợ lực trừ phong thấp.

– Quế tâm: Ôn can kinh.

– Tần giao, Phòng phong: Phát tán phong hàn thấp.

– Các vị thuốc hợp lại thành một bài thuốc có tác dụng vừa trị tiêu, vừa trị bản, vừa phò chính khu tà, là một phương thường dùng đối với chứng phong hàn thấp tý.

* Ứng dụng lâm sàng:

– Trường hợp chứng hàn tý lâu ngày, dùng bài thuốc cần gia thêm Xuyên ô, Thiên niên kiện, Bạch hoa xà để thông kinh lạc, trừ hàn thấp.

– Trường hợp viêm khớp mạn tính đau lưng, đau khớp lâu ngày, đau thần kinh tọa thuộc chứng thận hư, khí huyết bất túc dùng bài này gia giảm có kết quả tốt.

* Phụ phương:

TAM TÝ THANG (Phụ nhân lương phương)

Tức bài Độc hoạt tang ký sinh thang bở Tang ký sinh gia Hoàng kỳ, Tục đoạn, Gừng tươi sắc nước uống.

Có tác dụng ích Can Thận, bổ khí huyết, trừ phong thấp.

Nguồn: y học căn bản.

Tiêu Dao Tán (Hòa Tễ Cục Phương)

* Thành phần:

– Sài hồ 12 – 16g

– Đương quy 40g

– Bạch thược 40g

– Bạch truật 40g

– Bạch linh 40g

– Chích thảo 20g

* Cách dùng:

Tất cả tán bột, trộn đều mỗi lần uống với nước Gừng lùi 12g sắc với Bạc hà. Có thể dùng thuốc thang.

* Tác dụng:

– Sơ can giải uất, kiện tỳ, dưỡng huyết.

* Giải thích bài thuốc:

Bài thuốc do bài Tứ nghịch thang gia giảm.

* Chủ trị: Chứng can uất huyết hư.

– Sài hồ: Sơ Can giải uất là chủ dược.

– Đương quy, Bạch thược: Bổ huyết dưỡng Can, hòa vinh.

– Bạch linh, Bạch truật, Cam thảo: Kiện Tỳ bổ trung.

– Gừng lùi hòa chung dùng với Quy Thược để điều hòa khí huyết.

– Bạc hà giúp Sài hồ sơ Can giải uất.

Các vị thuốc hợp lại dùng thành một bài có tác dụng sơ Can lý Tỳ, hòa vinh dưỡng huyết.

* Ứng dụng lâm sàng:

Bài thuốc chủ trị chứng Can uất huyết hư sinh ra mạn sườn đầy tức, đau đầu hoa mắt, mồm họng khô, mệt mỏi, chán ăn hoặc hàn nhiệt vãng lai, kinh nguyệt không đều, hai vú căng tức, lưỡi hồng nhạt, mạch hư huyền.

1. Trường hợp Can uất huyết hư phát sốt, hoặc sốt về chiều, tự ra mồ hôi hoặc ra mồ hôi trộm, đầu đau mắt mờ, hồi hộp, bứt rứt, má đỏ, mồm khô, hoặc kinh nguyệt không đều, bụng đau, bụng dưới nặng, tiểu tiện khó và đau, dùng bài thuốc cần thêm Đơn bì, Chi tử để sơ Can thanh nhiệt gọi là bài Đơn chi tiêu dao tán (Nội khoa trích yếu).

2. Trường hợp Can uất huyết hư, bụng đau trước kinh, mạch huyền hư, bài thuốc gia thêm Sinh địa hoặc Thục địa để tăng cường dưỡng huyết hòa vinh, gọi là bài Hắc tiêu dao tán (Y lược lục thư phụ khoa chỉ yếu).

3. Trường hợp khí trệ sườn đau nặng bỏ Bạch truật gia Hương phụ để hành khí, chỉ thống.

4. Trường hợp viêm gan mạn, vùng đau gan đau nhiều, người mệt mỏi, ăn ít thuộc chứng Can uất Tỳ hư dùng bài thuốc này bỏ Bạc hà, Gừng lùi gia Hải phiêu tiêu, Đản sâm để hòa Can bổ Tỳ.

Nguồn: y học căn bản.

error: Content is protected !!