spot_img

Bài 3: Bình Vị Tán

(Phương thuốc điển hình trị dạ dày do ăn uống đạm thịt, rượu bia)

Thương truật 12g

Trần bì 4 – 12g

Hậu phác 4 – 12g

Cam thảo 4g

Album này mình tạo ra, nhầm đem chút hiểu biết nhỏ của bản thân ra chia sẽ cho các đồng sinh những điều về kiến thức lâm sàng, mà ở trường, ở sách vở ít có. Mấy em học y hay nhắn tin hỏi mình thấy điều gì hữu ích thì mang nó về cho bản thân, ứng dụng và giúp mọi người nhé.

Trước tiên muốn hiểu Bình Vị Tán, phải hiểu vị Thương truật trước, đó là “Tính ấm, vị đắng, cay, thơm“. Ấm thì trừ hàn thấp, đắng thì giáng xuống, cay thì tán ra, thơm thì tĩnh tỳ. So với Bạch truật thì Thương truậtchạy chứ không giữ“, nghĩa ra nó đẩy toàn bộ thức ăn, nước đọng, ở dạ dày, đường ruột ra ngoài theo đường đại tiện, nhưng vì tính ấm, thơm khô ráo nên nếu lạm dụng, dùng lâu, dùng không đúng bệnh sẽ làm hao dịch nhờn (tân dịch) làm khô đường ruột, làm ruột mất đức khôn mà kém nhu động, tiêu hóa hấp thu. Ngoài ra Thương truật vị cay, nên tán theo chiều ngang, đẩy khí vào vận hành máu ở gan, hành can khí, khí đẩy máu đi nhanh mà làm đỗ mồ hôi, nhìn rộng ra thì bổ được cho can khí, giải được can khí uất gây đau tức hạ sườn v.v. Bạch truật thì ngược lại, đi theo chiều dọc xổ xuống, hòa hoãn, bổ giữ thì nhiều, mà chạy thì ít, dùng với Bạch linh thì thấm xuống theo chiều dọc mạnh hơn, phạt tà ở gan, kiện tỳ thổ, liễm mồ hôi.

Hậu phác thì nóng đắng là chính, giúp Thương truật đẩy nhanh ẩm thấp, thực trệ xuống, điểm khác là Hậu phác không có mùi thơm, cũng không quá cay, để tán khí thấp vào máu, hành can khí làm ra mồ hôi như Thương truật. Hậu phác chủ yếu là đắng khô nóng, xác vỏ cây như vỏ nhục quế nên khá nóng và trừ hàn ở đường ruột, gây tiêu chảy, sôi bụng v.v là chính. Trần bì thì lý khí hóa trệ, nhiều tinh dầu nên giúp ruột trơn, khí vị đa dạng, phụ thuộc vào thuốc chính mà nó đi theo, thuốc nặng đắng giáng thì nó đi xuống như thuốc đại tràng khi đi kèm với Hoàng liên, Bạch truật, mà nhẹ cay tán thì nó đi lên như thuốc trị ho ở phế với Cát cánh v.v. Cam thảo trong Bình Vị Tán thì thường ít, thậm chí bỏ luôn nếu thực trệ, trướng bụng, khó tiêu nhiều. Vì Cam thảo nó giữ ở tỳ vị, nên bài Tứ QuânSâm Truật bổ là chính nên cần dùng nhiều Cam thảo để bồi bồ, còn bài Bình Vị thì ngược lại, Thương truật, Hậu phác là giáng chạy là chính nên Cam thảo phải ít.

* Điểm chú ý thường dùng:

– Thêm Sâm, Táo thì đỡ được cái hao tân dịch, không làm khô ruột.

– Thêm Mộc hương, Sa nhân thì tăng tính hóa thấp mạnh.

– Thêm Bạch linh, Bán hạ thì tăng tiêu đờm thấp.

– Thêm Sâm, Kỳ, Thăng, Sài thì gần giống bài Điều trung ích khí thang.

– Thêm Hoàng liên, Ngô thù thì trừ được cái thấp nhiệt uất gây đắng miệng, hôi miệng, hôi nách v.v hay gặp ở các bệnh Viêm dạ dày, vi khuẩn HP do ăn nhiều đạm thịt cá, rượu bia.

Trọng Hậu

Công dụng

Thông tin

Thông tin

error: Content is protected !!