spot_img

Bài 7: Bổ Trung Ích Khí

Suy nhược cơ thể, tạp bệnh lâu năm và ứng dụng bài Bổ Trung Ích Khí (BTIK)

Có nhiều người luôn cảm giác mệt mỏi không khỏe trong người như suy nhược cơ thể, thiếu hơi mệt mỏi, sợ gió sợ mưa v.v Nhưng khi đi khám bệnh tổng quát Tây y thì không có bệnh, gan thận tim đều bình thường, mọi thứ đều bình thường. Với Đông y thì đa số họ là do KHÍ bị bệnh.

Vậy Khí là gì?

Tại sao lại bệnh?

Tại sao xét nghiệm Tây y không ra?

Ví dụ về Huyết – Áp cho mọi người dễ hiểu. Huyết là máu, là hữu hình; Áp là áp lực máu, là vô hình. Khi truyền máu vào cơ thể, bác sĩ để bình máu lên cao là muốn tăng Áp lực để đẩy máu đi xuống vào cơ thể, điều ấy đồng nghĩa nếu không có Áp lực thì máu sẽ không di chuyển. Với Tây y thì bác sĩ chỉ chữa thiếu máu thôi, nhẹ thì uống vitamin B9, B12, Fe, ăn thịt bò, tôm, cà rốt, củ dền v.v. Nhưng phần lớn bệnh nhân áp dụng ăn như vậy nhưng không tăng máu là tại sao? Vấn đề ở đây là làm sao tăng ÁP LỰC MÁU, chứ không phải chỉ bổ máu, mà làm sao để tăng áp lực máu nội tại của cơ thể thì Tây y khó điều trị được ngoài việc cang thiệp bằng thiết bị máy móc.

📌 Trong Đông y ÁP LỰC MÁU thuộc KHÍ.

Khí là một quá trình tương tác của nhiều cơ quan phối hợp đồng bộ với nhau. Khi ăn vào bụng, thì dạ dày co bóp (VỊ KHÍ), mỗi nhịp co bóp sẽ tạo ra một dòng khí đi xuống ruột, dòng khí này lại hỗ trợ giúp dòng khí của ruột nhu động mà hấp thu dinh dưỡng, mỗi dòng khí do ruột nhu động hấp thu lại giúp đẩy dinh dưỡng vào máu đi về gan (TỲ KHÍ), CAN KHÍ lại co bóp sinh ra dòng khí kết hợp với tỳ khí mà chuyển hóa dinh dưỡng, PHẾ KHÍ hít oxy vào phổi (Hít sâu thì khí nhiều oxy), lại giáng oxy xuống mà chuyển hóa thành huyết (HUYẾT = Protein + Fe + B12,B9 + O2), lại được TÂM KHÍ đẩy huyết đi lưu thông nuôi dưỡng cơ thể, cuối cùng được THẬN KHÍ bên dưới thanh lọc bài tiết chất độc thải ra ngoài.

Theo kinh nghiệm bản thân, Can Khí đóng vai trò quan trọng bậc nhất trong quá trình tiêu hóa và hấp thu dinh dưỡng này. Chức năng giáng của vị, chức năng thăng của tỳ đều nhờ vào tính sơ tiết (sơ thông, thăng phát, phát tiết) của can. Cơ thể có hấp thu hay không không phải đơn thuần là bổ tỳ vị cho khỏe, mà quan trong can phải sơ tiết điều hòa, không mạnh cũng không yếu để giúp máu huyết vận hành đi nuôi dưỡng tỳ vị, lại giúp sản xuất mật cho đởm mà hỗ trợ tiêu hóa (Can khí chức năng rất rộng). Còn Thận khí bên dưới như cái máy xoay không ngừng nghĩ, tốc độ xoay càng điều hòa thì máu huyết lưu thông càng ổn định, chất độc trong máu được làm sạch, máu sạch lưu thông nuôi dưỡng cơ thể, con người càng khỏe mạnh. Nên phác đồ điều trị trong đông y cho bệnh suy nhược nặng, tạp bệnh lâu năm trị gì thì trị, cuối cùng phải bổ thận khí, vì đó là Khí TIÊN THIÊN, căn bản của sinh mệnh. Còn Vị khí, Tỳ khí, Can khí, Phế khí, Tâm khí là Khí HẬU THIÊN.

Nên nếu bệnh nhân bị thiếu máu do thiếu ăn, thiếu chất thì ăn nhiều chất vào, bổ sung vitamin vào là tăng máu thôi. Còn nếu ăn dư chất, bổ sung vitamin, Fe v.v… mà không tăng máu thì do bị thiếu Áp, nghĩa là do cái KHÍ quá trình trên có vấn đề. Và vấn đề của thầy thuốc Đông y ở đây là phải biết nó nằm ở đâu mà chữa trị. Ví dụ: bạn bị viêm dạ dày thì dạ dày sẽ co bóp kém, dẫn đến áp lực khí kém, thì phải chữa ở dạ dày; viêm gan, nan gan thì can khí sẽ uất trệ suy yếu nên phải chữa ở gan; hay mạch máu bị ứ tắt làm khí không thông thì phải làm thông mạch máu, còn tạp bệnh lẫn lộn phải có biện chứng, phác đồ v.v.

Trong Đông y có hai bài thuốc bổ nổi tiếng, một bài là Kim Quỹ Thận Khí để bổ khí Tiên thiên, một bài là Bổ Trung Ích Khí để bổ khí hậu thiên. Hôm nay nói về bài:

📌 Bổ Trung Ích Khí

Bài thuốc BTIK là gồm bài Tứ Quân Tử Thang bỏ Bạch linh vì vị đạm nhạt thấm hút dọc xuống làm cản trở sự thăng phát bốc lên của khí; gia Đương Quy Bổ Huyết Thang có vị Hoàng kỳ bổ khí lực mạnh giúp thăng dương khí của Can Tỳ; Đương quy giúp hòa huyết mạch nhuận tỳ thổ làm đất đai tươi nhuận tránh sự cương táo thái quá của Bạch truật; Sài hồ thăng dương khí can đởm, Thăng ma thăng dương khí của tỳ vị, hai vị này chất thì nhẹ rỗng, khí thì thanh, nó xúc tác kích thích dẫn đạo để giúp cái khí Đẳng sâm, Hoàng kỳ, Trần bì bốc lên. Thăng ma thì xới đất (Tỳ vị), khơi hãm trệ cho đất tươi xốp mà bốc hơi lên; Sài hồ thì xới rễ cây cắt tỉa cành lá khô héo làm thông thủy đạo mà cây lá thăng phát xanh tươi, lúc này đất đai màu mỡ tươi xốp mà chức năng tỳ vị sẽ khôi phục. (Tỳ vị thuốc hành Thổ).

Về mặc YHHĐ, Thăng ma giúp khử ứ, giải độc, giảm đau, giải nhiệt trong dạ dày và ruột. Nhiệt này chủ yếu do bị thức ăn chèn ép tích tụ không thông, lúc này trong mạch máu cũng bị tắt nghẽn, bị chèn ép gây ứ trệ làm máu không đến nuôi dưỡng được, nên vị Hoàng kỳ giúp tăng áp lực máu của Đương quy giúp máu được thông, Sài hồ dẫn đạo tán những bọt khí ứ trong máu làm tăng tác dụng hòa huyết thông mạch máu của đương quy, lại sơ thông dẫn đạo giúp Hoàng kỳ, Đương quy tăng tác dụng chuyển hóa dinh dưỡng từ ruột non đến gan mà sinh huyết, Sài hồ lại giúp giải cái nhiệt bốc lên sinh nóng ở trên. Đẳng sâm thì tăng tác dụng hấp thu ở ruột non, Bạch truật giúp chuyển hóa protein, Cam thảo thì chống loét giải độc, Trần bì giúp dạ dày tiết dịch vị mà giúp tăng khả năng hấp thu dinh dưỡng. Ngoài ra, Sâm Kỳ gọi là thuốc bổ khí, uống vào làm nhịp tim tăng lên, giúp tốc độ lưu thông máu trong động tĩnh mạch chủ tăng, áp lực máu tăng, đây gọi là bổ ÁP để tăng Huyết.

📍 Quá trình bệnh sinh

Bài thuốc BTIK được lập ra để giúp tăng quá trình chuyển hóa thức ăn như trên. Vì khi ăn uống khó tiêu, thì thức ăn bao giờ cũng tích trong dạ dày và đường ruột, khi thức ăn tích sẽ sinh hơi, mà hơi không đi xuống điều hòa mà đi ngược lên sẽ dẫn đến ợ hơi, còn hơi mà đi xuống được thì sẽ thành xì hơi mà thối, khi hơi không đi lên không đi xuống được sẽ dẫn tới trướng bụng, nếu hơi này mà ẩm thấp nhiều nước sẽ sôi ruột, còn hơi này nhiều nhiệt sẽ nóng bụng, mà khi cực nóng sẽ phát nóng sốt bức rứt, môi miệng lỡ loét v.v Bên cạnh đó khi thức ăn tích lâu ngày, thì ruột sẽ bị chèn ép mà kém nhu động làm tạo ra môi trường kỵ khí mà sinh vi khuẩn, tiêu biểu là vi khuẩn HP. Mặc khác thức ăn chất độc tích trệ sẽ là mạch máu trong ruột sẽ bị ứ trệ theo, gọi là khí trệ dẫn đến huyết ứ, lúc này các khí độc vào máu sẽ bị kết lại ở các chỗ ứ trệ này, mà khí độc (Khí gốc N, P, S) vào máu lại không được gan chuyển hóa thành muối sẽ dẫn tới gan bị nhiễm độc làm nóng gan, men gan cao, viêm gan B, mụn nhọt, người nóng sốt, đỗ mồ hôi, tính tình trở nên dễ giận cáu gắt, tinh thần u uất, không thư thái v.v.

Khi ruột bị chèn ép thức ăn không đi xuống sẽ dẫn đến táo bón, đa số là bón lúc đầu do thức ăn sau đè lên thức ăn trước còn sau thì lại sệch lỏng, còn máu ứ trệ mà bị vỡ ra thì dẫn tới đại tiện ra máu. Khi thức ăn ẩm thấp bị tích tụ trong máu mà không lưu thông, vì chất nặng nên lâu ngày sẽ chảy xuống thận mà thành khí hư, đới hạ, viêm lộ tuyến của phụ nữ. Khi khí ở đại trực tràng bị tắt, không đi lên sẽ dẫn tới bị hãm xuống làm sa trực tràng, sa ruột, trĩ nội, trĩ ngoại, khí hãm trong máu xuống thì sa tử cung. Còn khí tắt lâu ngày sẽ dẫn đến huyết bị ứ làm dẫn đến đa dạng các loại bệnh từ đau đầu, đau ngực, nóng ngực, vã mồ hôi, mất ngủ, hay mơ, hồi hộp, phát sốt, mắt môi thâm vần v.v. Khí mà không thông lên mũi thì viêm mũi dị ứng, viêm xoang, bệnh lâu ngày tất gan thận cũng bị bệnh làm đau khớp, đau lưng, yếu cơ v.v rất đa dạng.

📍 Gia giảm các bệnh lâm sàng thường gặp. (Sách không viết)

1️⃣ Bệnh đại tràng mãn tính

Bệnh đại tràng mãn tính trong chứng của bài BTIK gốc là do thanh dương hạ hãm, nên hay hoa mắt chóng mặt do khí không thăng lên. Nhưng đa số bệnh lâu năm thường kèm các chứng của các vị thuốc như:

Can khương trong chứng Tỳ dương hư tiêu lỏng, lạnh chân tay.

Ngô thù du trong chứng can khí hoành nghịch, uất trệ làm đau sườn đắng miệng

Thương truật, Bạch linh trong chứng thấp trệ tiêu lỏng sệch máu sẩm tối, tiểu vàng.

Phá cổ chỉ trong chứng Tỳ Thận lưỡng hư gây đau lưng, lạnh chân, tiểu đêm v.v… lúc này thường tùy vào chứng mà có thể gia chung Can khương, Phụ tử, Phá cổ chỉ, Ngô thù du, Thương truật, Bạch linh và thường bỏ Đương Quy, nếu viêm đau thì không nên dùng Táo. Trong phương gia giảm có vị Phụ tử về nguyên tắt thì ít dùng bệnh ở trung tiêu, nhưng thực tế lâm sàng nhiều bệnh không có thì không trị được, thậm chí phải dùng nhiều 8g – 12g và tăng Cam thảo, Đẳng sâm, chích kỳ lên để hòa hoãn tính giáng mà tuyên thông huyết mạch của Phụ tử để giúp Sâm Kỳ phục hồi nguyên khí hậu thiên.

2️⃣ Bệnh hư nhược mệt mỏi mãn tính

Bệnh loại này nguồn gốc là do nguyên khí suy nhược, lâu ngày làm trung khí hư theo, khí hư thì bao giờ cũng có khí trệ, uất trệ ở gan thì có Hương phụ, Uất trệ ở thận tiểu tràng thì có Ô dược, và lâm sàng hay kết hợp cả 2 vị này vào tính hiệu quả trong việc giải khí uất, điều khí, thuận lại dòng khí sẽ rất cao. Vì trung tiêu là khu vực dưới hoành cách mô, và hai vị này được ứng dụng rất hiệu quả trong bài Cánh Hạ Trục Ứ Thang của cụ Vương Thanh Nhậm. Lúc này nếu bệnh nhân không có hiện tượng nóng thì nên gia thêm Phụ tử để tăng tác dụng tuyên thông bổ khí của bài thuốc. Vì khí trệ lâu ngày thì sẽ thành huyết ứ, nên lâm sàng thường có thêm biểu hiện của huyết ứ như người nóng sốt, đỗ mồ hôi, hồi hộp, đau tức ngực sườn, nhói tim v.v… Nếu ứ nhẹ thì thêm Xuyên khung, Xích thược, nếu nặng hơn thì thêm Hồng hoa, Đào nhân. Nhìn chung là gộp bài thuốc của hai cụ Lý Đông ViênVương Thanh Nhậm trong phác đồ điều trị giai đoạn đầu.

3️⃣ Bệnh viêm mũi dị ứng, viêm xoang

Không bị cảm mà nghẹt mũi thì đa số là do khí không thông lên, lâu ngày chỗ không thông đó bị tắt và uất, uất lâu sinh nhiệt, nhiệt bốc lên sẽ dẫn đến bị viêm mũi, viêm xoang. Nên nếu mũi nghẹt, hay dị ứng mà chưa viêm thì uống bài BTIK sẽ giúp khí được thăng lên, hơi thở được sâu thì một thời gian chứng nghẹt mũi, viêm mũi dị ứng sẽ hết. Còn khi bị viêm, phù nề trong chứng Bổ Trung thì phải có nhiệt độc, đa số nhiệt độc đó uất ở kinh dương minh vị, hoặc kinh thiếu dương đởm vì kinh dương minh chạy lên trong mũi, trán, vùng mặt còn kinh thiếu dương thì hiệp với dương minh tại vùng mặt. Nên ngoài uống bài thuốc Bổ Trung cần gia các vị phát tán như Ké đầu ngựa, Bạch chỉ, Khương hoạt, Phòng phong và phải có Hoàng cầm hoặc Chi tử để giáng cái nhiệt đi thuận xuống mới trị được. Ngoài ra có trường hợp ít phổ biến hơn là can tỳ thận bị bệnh, cũng sẽ dẫn đến đởm vị bị bệnh mà dẫn đến viêm mũi, viêm xoang, thuộc phạm vi bài thuốc khác.

4️⃣ Bệnh phụ khoa, khí hư, đới hạ

Tạng tỳ chủ vận hóa thủy thấp, phối hợp cùng Tâm, Phế, Thận, Bàng quang v.v… để trao đổi vận hành thủy dịch. Chứng bệnh trong bài Bổ Trung là do tỳ khí hư, khí hãm xuống, tỳ khí hư không giúp vận hành thủy dịch sinh thủy thấp, đàm ẩm v.v… Chính những ẩm thấp này đình đọng, lâu ngày lắng xuống thận bàng quang mà sinh ra các bệnh phụ khoa của phụ nữ. Đây là chứng bệnh của bài bổ trung gia các vị như Ý dĩ, Tỳ giải, Sa tiền tử;Viêm nhiễm thì thêm Kim ngân hoa, Sà sàng tử, Ích mẫu v.v…

Trọng Hậu

Công dụng

Thông tin

Thông tin

error: Content is protected !!