Thiệt chẩn: Hình Móng Ngựa

Kiểu hình lưỡi này thể hiện 2 bên trái phải đều lồi lên, dưới lõm , hình dáng chữ U với đáy rộng.

Cho thấy tình trạng uất trở của bệnh nhân có kiểu hình lưỡi này: Thăng giáng bị trở ngại.

Vùng bên dưới lõm thể hiện sự khuy hư ở vùng hạ tiêu , nếu vùng dưới lồi lên thể hiện tà khí gây trở trệ hạ tiêu

ღ Bệnh cơ: Can uất khí trệ, tỳ thận lưỡng hư, phế khí ủng trệ.

———

Bàn luận :

Chứng khí trệ ngoài những nguyên nhân do bệnh tà xâm nhập hoặc ngoại thương, lâm sàng cũng gặp nhiều trường hợp do nội thương thất tình gây nên.

Chứng khí trệ có quan hệ chặt chẽ với can. Can chủ sơ tiết và điều đạt. Can mất sơ tiết điều đạt thì khí trệ mà uất kết. Những công năng này của Can có ảnh hưởng trực tiếp đến tư duy tinh thần hoạt động, cho nên tình tự uất ức, tâm hung thắt hẹp, hay nghi ngờ cáu giận, dễ xúc động gây nên chứng này.

Đến như cục bộ kinh lạc vì nhiễm phải phong tà hàn thấp, dẫn đến khí vận hành trong kinh lạc không trôi chảy, cũng làm khí trệ gây trướng đau. Nạn 22 sách Nạn kinh viết:” Khí lưu lại không thăng,là khí bị bệnh trước. Nếu phong hàn thấp tà ẩn náu ở chân tay thân hình, kinh mạch và các khớp, sẽ gây nên tỷ chứng có các chứng trạng các khớp tay chân đau mỏi, hoạt động khó khăn.

Cũng cần nói rõ chứng này là bệnh chứng thường gặp trong các bệnh biến thuộc về Khí, và cũng là cơ sở biến hóa về các bệnh về khí.

Ví dụ : khí trệ không thư sướng, dẫn đến công năng thăng giáng ra vào của khí cơ bị trở ngại mà xuất hiện khí cơ rối loạn, khí nghịch nên làm thành chứng khí nghịch. Vì khí trệ không thư sướng dẫn đến công năng thu nạp, ngấu nhừ và vận hóa của thủy cốc của tỳ vị bị yếu, xuất hiện chứng khí hư. Vì khí trệ không thư sướng, dẫn đến bệnh tà không chịu rút lui. Tà khí hữu dư mà xuất hiên chứng hỏa nhiệt do tà khí úng thịnh.

Tà uất hóa hỏa. Vì khí trệ không thư sướng dẫn sự vận hành, phân bố, bài tiết tân dịch ở ba tạng Phế Tỳ Thận bị thất thường dẫn đến chứng thủy thũng vì khí không vận hành thủy, thủy thấp ứ đọng.v.v. Vì khí huyết cũng là nguồn gốc, âm dương hỗ căn, cho nên bệnh của khí có thể dẫn đến bệnh ở huyết, vì vậy mới có “khí hành thì huyết hành, khí trệ thì huyết ứ trái lại, chỗ bị huyết ứ, mạch lạc xuyên nghẽn, huyết lại đọng không lưu hành được, cũng có thể xuất hiện khí trệ.

Ví dụ : chứng tích tụ, phần nhiều do thất tình tổn thương, khí cơ uất kết, khí trệ mà thành tụ, bệnh lâu ngày, huyết ứ mà thành tích.

Bởi thế trên lâm sàng phân tích chứng này cần có nhận thức về quan hệ tư sinh và sự tồn tại của khí và huyết, thứ hai này có mối quan hệ nhân quả với nhau chứ không tách rời nhau được.

Lược dịch và tổng hợp : Ths.Bs Nguyễn Xuân Hưng

Bài viết khác ―

Bài viết khác ―

error: Content is protected !!