spot_img

TỲ DU

Huyệt vùng

Đường kinh

Lượt xem

Mô tả huyệt

B 20 Píshù (Pi Chou)

Xuất xứ: “Linh khu – Bối du“.

Tên gọi: – “Tỳ” hiểu theo giải phẫu là lách, tụy, hiểu theo sinh lý là hệ thống vận hành đường tiêu hóa.

– “Du” có nghĩa là nơi khí ra vào.

Huyệt bên trong ứng với Tỳ, là nơi Tỳ khí rót vào, lại là huyệt quan trọng chủ trị bệnh tật của Tỳ, nên được gọi là Tỳ du.

Huyệt thứ 20 thuộc Bàng-quang kinh.

Đặc biệt:Bối du huyệt” của Tỳ.

Mô tả huyệt:

1. Vị trí xưa: Hai bên xương sống, dưới đốt sống lưng thứ 11 đo ra 1,5 thốn (Giáp ất, Đồng nhân, Phát huy, Đại thành).

2. Vị trí nay: Khi điểm huyệt nên ngồi hơi khom lưng xuống hoặc nằm sấp. Dưới mỏm gai đốt xương sống lưng 11 đo ra 1,5 thốn.

3. Giải phẫu, Thần kinh: Dưới huyệt là cân ngực-thắt lưng của cơ lưng to, cơ răng bé sau-dưới, cơ lưng dài, cơ bán gai của cơ ngực, cơ ngang-vai, cơ ngang sườn. Dưới nữa là tuyến thượng thận – Thần kinh vận động cơ là nhánh của đám rối cánh tay, nhánh dây gian sườn 11, nhánh dây sống lưng 11. Da vùng huyệt chi phối bởi tiết đoạn thần kinh T10 hoặc T11.

 

Hiệu năng của huyệt: Phò thổ trừ thủy thấp, điều lý khí, trợ vận hóa, hòa vinh huyết.

Tác dụng trị bệnh:

Toàn thân: Viêm dạ dày, loét dạ dày, sa dạ dày, nôn mửa do thần kinh, tiêu hóa kém, viêm gan, viêm ruột, phù thũng, thiếu máu, gan tỳ sưng lớn, bệnh do xuất huyết mãn tính, sa tử cung, phong mề đay, bải hoải cơ thể.

Lâm sàng:

1. Kinh nghiệm tiền nhân: Phối Thính cung trị lạnh dưới tim (Bách chứng). Phối Bàng-quang du trị kém tiêu do tỳ hư (Bách chứng). Phối Vị du trị ăn nhiều mà vẫn gầy (Đại thành). Phối Can du, Thượng quản trị mửa ra máu, mũi ra máu (Đại thành). Phối Đại-trường du trị sình bụng no hơi làm đau lan tới lưng, ăn nhiều vẫn gầy (Tư sinh).

2. Kinh nghiệm hiện nay: Phối Vị du trị bệnh ở trung tiêu. Phối Chương môn, Ốc ế trị nuốt chua. Phối Thượng quản, Thân mạch, Dương Lăng-tuyền trị xuất huyết dạ dày. Phối Cách du, Di du, Thận du, Tỳ-nhiệt huyệt trị đái đường. Phối Đại chùy, Túc Tam-lý, Tam-âm giao (cứu ngải) trị chứng giảm bạch tế bào. Phối Vị du, Nội quan, Trung quản, Công tôn trị bụng trướng, đau bụng, ỉa chảy. Phối Cách du, Thận du, Túc Tam-lý, Tam-âm giao trị tiêu khát. Phối Thần môn, Tâm du, Tam-âm giao trị mất ngủ.

Phương pháp châm cứu:

1. Châm: Thẳng, hơi xiên vào cột sống, sâu 1 – 1,5 thốn, tại chỗ có cảm giác căng, tức tê đồng thời lan tới vùng thắt lưng.

2. Cứu: 3 – 7 lửa.

3. Ôn cứu: 5 – 20 phút.

* Chú ý: Không châm sâu quá, dưới là gan và thận.

Tham khảo:

1. “Tố vấn – Thích cấm luận thiên” ghi rằng: “Châm trúng tỳ 10 ngày sau chết”.

2. “Giáp ất” quyển thứ 7 ghi rằng: “Sốt dùng Tỳ du và Thận du làm chủ”.

3. “Giáp ất” quyển thứ 9 ghi rằng: “Đại trường chuyển khí, đè vào như cái chén, nhiệt dẫn tới đau dạ dày, tỳ khí hàn, tay chân co quắp, không thích ăn uống, dùng Tỳ du làm chủ”.

4. “Thiên kim” ghi rằng: “Trị Tỳ phong có phương sau: Cứu Tỳ du ở hai bên cột sống mỗi bên 50 lửa, ứng tùy theo tháng để cứu 4 mùa, hay ngáp, thì cứu tạng du là tỳ huyệt, phép này rất có hiệu quả”.

5. “Tư sinh” quyển thứ 5 ghi rằng: “Tỳ du, Đại-trường du, chủ trị trong bụng khí căng trướng lan đau tới cột sống, ăn uống thì nhiều mà người gầy nhom”.

6. “Đại thành” quyển thứ 6 ghi rằng: “Tỳ đau chủ trị trướng bụng lan tới đau ở ngực lưng, ăn nhiều mà người gầy, cục hòn tích tụ ở bẹn, đầy dưới sườn, ỉa chảy, sốt rét lạnh sốt, phù thũng khí trướng lên đau tới cột sống, vàng da, không muốn ăn”.

7. “Bách chứng phú” ghi rằng: “Tỳ hư, cơm ăn vào không tiêu châm Tỳ du và Bàng-quang du” (Tỳ hư, dĩ bất tiêu, Tỳ du, Bàng-quang du mịch).

8. “Tỳ du có công hiệu kiện tỳ lợi thấp, ích khí lưu nhiếp. Hễ tỳ dương yếu xuất hiện thủy thấp đình trệ ở bên trong, ăn ít, ỉa lỏng, căng sình bụng, đau nhức thích đè, tay chân rũ rượi, phù thũng, trung tiêu hư hàn cho đến các chứng xuất huyết thuộc tỳ hư không thống nhiếp được huyết đều có thể dùng huyệt này để trị”.

9. Theo kinh nghiệm của Soulié de Morant, buồn rầu, lo sợ, chán nản là do tâm khí hư, chính trạng thái ấy đưa bệnh nhân đến chỗ mất ngủ, hay nằm mộng, hồi hộp mau quên và dễ khiếp sợ, để trị chứng này phải bổ huyệt Tỳ du, vì Tỳ là con của Tâm, con có khỏe thì mẹ mới yên. Còn Thính cung tùy thuộc Tiểu-trường kinh song đồng thời cũng là chỗ giao hội của Thủ Thiếu-dương và Túc Thiếu-dương Đởm kinh, nên tả huyệt này thì có thể làm cho tâm huyết được sung túc, thì tâm sẽ an, thần sẽ định.

10. Theo kinh nghiệm của phái Trạch Điền (Nhật Bản), phần lớn dùng huyệt này nên cứu, đây là một trong những huyệt quan trọng trong châm cứu. Huyệt chính của Tỳ và cũng là của Vị vì Tỳ là gốc của Vị. Tỳ và Thận là nơi dễ bị bệnh, trong y học hiện đại không đặt nặng vấn đề này, nhưng theo y học cổ truyền được xem là quan trọng. Nếu Tỳ, Thận, có bệnh thì Can cũng lây bệnh theo, có thể làm cho trí nhớ kém, tinh thần mệt mỏi. Tỳ còn chủ về trí nhớ nên gọi là “Trí tuệ đại” (Cái đẩy của trí tuệ).

11. Có tác giả hiện đại cho rằng huyệt nằm trên mỏm gai cột sống lưng 11 đo ra mỗi bên 1,5 thốn.

Xem thêm

Vị trí

Tra cứu huyệt

Đặc biệt

Chủ trị

Xem thêm

Bài 7: Bổ Trung Ích Khí

Suy nhược cơ thể, tạp bệnh lâu năm và ứng dụng bài Bổ Trung Ích Khí (BTIK) Có nhiều người luôn cảm giác mệt mỏi...

Bài 6: Quy Tỳ Thang

(Phương thuốc nổi tiếng trị chán ăn mất ngủ! Cũng như các bệnh lý về tim như loạn nhịp tim, hở van tim, suy...

Bài 5: Thuốc Lý Khí và Giáng Khí

Đường ruột dạ dày người bị bệnh tiêu hóa, thì niêm mạc cũng giống MIẾNG VẢI bị chôn trong đất bẩn lâu ngày kéo...

Bài 4: Nhóm Thuốc Bổ Trị Bệnh Tiêu Hóa

Hệ tiêu hóa trong Đông y gọi là Tỳ Vị, thuộc hành Thổ. Trong đó Vị thổ thuộc quẻ Cấn, là núi, đất nhô...

Bài 3: Bình Vị Tán

(Phương thuốc điển hình trị dạ dày do ăn uống đạm thịt, rượu bia) Thương truật 12g Trần bì 4 - 12g Hậu phác 4 - 12g Cam...
error: Content is protected !!