spot_img

THƯỢNG QUẢN

Huyệt vùng

Đường kinh

Lượt xem

Mô tả huyệt

CV 13 Shàngwăn (Chang Koann)

Xuất xứ: “Linh khu“.

Tên gọi: – “Thượng” có nghĩa là ở trên.

– “Quản” ở đây có ý chỉ tới dạ dày.

Huyệt nằm trên Trung quản 1 thốn, nó ở vùng thượng vị phía trên nên gọi là Thượng quản.

Theo “Kinh huyệt thích nghĩa hội giải” ghi rằng: “Quản, có nghĩa là Vị phủ, lại thông với quản (có nghĩa là ống), huyệt ở dưới Cự khuyết 1 thốn, ngay ở miệng trên của Vị nên gọi là Thượng quản“.

Tên đọc khác: Thượng hoãn.

Tên Hán Việt khác: Vị quản, Thượng kỷ.

Huyệt thứ 13 thuộc Nhâm mạch.

Đặc biệt: Giao hội của Túc Dương-minh. Thủ Thái-dương, Nhâm mạch.

Mô tả huyệt:

1. Vị trí xưa: Dưới huyệt Cự khuyết 1 thốn, từ xương ức xuống 3 thốn (Giáp ất). Trên lỗ rốn 5 thốn, dưới huyệt Cự khuyết 1 thốn (Đại thành).

2. Vị trí nay: Trên đường giữa bụng, từ rốn đo lên 5 thốn. Khi điểm huyệt nằm ngửa.

3. Giải phẫu, Thần kinh: Dưới huyệt là đường trắng. Dưới nữa là mạc ngang, phúc mạc. Phần ngang của dạ dày. Da vùng huyệt chi phối bởi tiết đoạn thần kinh T7.

Hiệu năng của huyệt: Lý Tỳ vị, hóa đàm trọc, sơ khí cơ, định thần chí, hóa thấp giáng nghịch.

Tác dụng trị bệnh:

Tại chỗ, theo kinh: Viêm dạ dày cấp mãn tính, no hơi, co thắt dạ dày, co thắt thực đạo.

Lâm sàng:

1. Kinh nghiệm tiền nhân: Phối Trung quản trị đau dạ dày (Ngọc long). Phối Trung quản trị trống hàn thương thực, ăn uống không tiêu (Tư sinh).

2. Kinh nghiệm hiện nay: Phối Nội quan, Công tôn trị co thắt thực đạo. Phối Nội quan, Thủ Túc Tam-lý trị viêm dạ dày cấp tính. Phối Phong long, Phong trì, Thân mạch, Chiếu hải, Hậu khê trị động kinh. Phối Trung quản trị các loại đau tim.

Phương pháp châm cứu:

1. Châm: Thẳng, sâu 1,5 – 2 thốn, có cảm giác căng nặng ở vùng bụng trên.

2. Cứu: 3 – 5 lửa.

3. Ôn cứu: 5 – 15 phút.

Tham khảo:

1. “Bách chứng phú” ghi rằng: “Nổi cuồng chạy bậy, tức ở Thượng quản chọn huyệt Thần môn” (Phát cuồng lung tẩu, Thượng quản muộn thủ vu Thần môn).

2. “Kim giám” ghi rằng: “Khí bôn đồn tích ở vị, chứng phục lương tích ở tâm, chọn huyệt Thượng quản”.

3. “Thắng ngọc ca” ghi rằng: “Đau tâm tỳ, châm Thượng quản” (Tâm thống tỳ thống, Thượng quản thủ).

4.Tịch hoằng phú” ghi rằng: “Hai ngày âm dương tìm Phong phủ, nôn mửa lại cần châm Thượng quản” (Dương âm nhị nhật tầm Phong phủ, ẩu thổ hoàn tu Thượng quản liệu).

5. “Ngọc long ca” ghi rằng: “Chín loại đau tim và đau tỳ, châm huyệt Thượng quản rất hay, nếu tỳ bại thì bổ Trung quản” (Cửu chủng tâm thống cập tỳ thống, Thượng quản huyệt nội dụng thần châm, nhược hoàn tỳ bại Trung quản bổ, lưỡng châm thần hiệu miễn huyệt xâm).

6. Căn cứ theo “Giáp ất” ghi rằng huyệt Thượng quản là nơi hội của Nhâm mạch, Túc Dương-minh, Thủ Thái-dương.

7. Hạ quản, Trung quản, Thượng quản đều trị bệnh đau dạ dày và ruột, nhưng cả ba huyệt mỗi huyệt đều có một sở trường riêng. Hạ quản thì tán mà đi, nên trị dạ dày kết hợp thông trường phủ. Trung quản thì hòa mà tiêu, nên trị dạ dày mà sinh trung khí. Thượng quản thì ức chế mà giáng xuống, nên trị dạ dày kết hợp thư hông cách.

8. Về vị trí của huyệt này, mỗi sách nói mỗi khác. Theo “Giáp ất” quyển thứ 3, “Đồ dực” ghi rằng: “Thượng quản ở dưới Cự khuyết 1 thốn 5 phân, dưới xương ức 3 thốn”. Còn “Đồng nhân“, “Phát huy” lại ghi rằng: “Dưới huyệt Cự khuyết 1 thốn, hợp 1 thốn 5 phân, dưới xương ức 3 thốn”. Ngày nay các sách thường theo “Thiên kim“, “Đại thành” làm chuẩn là “ở dưới huyệt Cự khuyết 1 thốn” tức là ở trên rốn 6 thốn.

9. Theo “Mạch kinh” huyệt này còn gọi là Thượng quản.

10. Khi châm huyệt này mũi kim hơi chếch lên trên đồng thời vê kim liên tục, cảm giác của châm theo Nhâm mạch chạy vào bụng rồi hướng dần lên trên vùng ngực, có ít bệnh nhân chạy vào trong miệng, có một vài bệnh nhân chạy lên đỉnh đầu. Mũi kim hơi chếch xuống dưới đồng thời vê liên tục, cảm giác châm theo Nhâm mạch mà chạy vào trong bụng lần lần xuống dưới. Châm thẳng lại có cảm giác căng tức nặng ở tại chỗ dưới bụng có cảm giác như lòng bàn tay lớn, rất ít khi phóng lan hai bên phải trái hoặc lên xuống. Khi châm mũi kim chệch ra ngoài bên phải hay bên trái thì có cảm giác chạy lần ra vùng phía hông sườn của mũi kim châm. Phương hướng của mũi kim nên căn cứ vào nơi vùng đau mà thăng giáng để hòa vị khí. Chẳng hạn như bệnh ở Thực đạo thì châm chếch mũi kim lên trên, làm cho cảm ứng tới thực đạo, như vị khí thượng nghịch làm cho mũi kim hướng xuống dưới làm cho cảm ứng xuống mà lên mới tốt.

10. Trong những bệnh gan lớn, lách lớn bờ của nó nằm dưới huyệt này thì cấm châm vào, nếu châm cũng không nên chếch kim qua phải hoặc trái để tránh tổn thương gan lách. Lúc thủ pháp không nên dùng Đề tháp hoặc kim thô, để châm tránh thũng trường vị hoặc làm mủ sinh ra viêm phúc mạc. Sau khi châm không nên ăn no, ăn quá nhiều làm tổn thương Tỳ Vị, ảnh hưởng kém lúc điều trị.

Xem thêm

Vị trí

Tra cứu huyệt

Đặc biệt

Chủ trị

Xem thêm

Bài 5: Thuốc Lý Khí và Giáng Khí

Đường ruột dạ dày người bị bệnh tiêu hóa, thì niêm mạc cũng giống MIẾNG VẢI bị chôn trong đất bẩn lâu ngày kéo...

Bài 6: Quy Tỳ Thang

(Phương thuốc nổi tiếng trị chán ăn mất ngủ! Cũng như các bệnh lý về tim như loạn nhịp tim, hở van tim, suy...

Bài 7: Bổ Trung Ích Khí

Suy nhược cơ thể, tạp bệnh lâu năm và ứng dụng bài Bổ Trung Ích Khí (BTIK) Có nhiều người luôn cảm giác mệt mỏi...

Bài 4: Nhóm Thuốc Bổ Trị Bệnh Tiêu Hóa

Hệ tiêu hóa trong Đông y gọi là Tỳ Vị, thuộc hành Thổ. Trong đó Vị thổ thuộc quẻ Cấn, là núi, đất nhô...

Bài 3: Bình Vị Tán

(Phương thuốc điển hình trị dạ dày do ăn uống đạm thịt, rượu bia) Thương truật 12g Trần bì 4 - 12g Hậu phác 4 - 12g Cam...
error: Content is protected !!