spot_img

THƯỢNG QUAN

Huyệt vùng

Đường kinh

Lượt xem

Mô tả huyệt

G 3 Shàngguàn (Chang Koann, Keu Tchou Jenn)

Xuất xứ: “Linh khu – Bản du“.

Tên gọi: – “Thượng” có nghĩa là ở trên, ở phía trên.

– “Quan” có nghĩa là cửa ải, khớp nối, ổ khớp.

Huyệt ở trên Hạ quan (ổ khớp dưới). Do đó mà có tên là Thượng quan.

Theo “Kinh huyệt thích nghĩa hội giải” ghi rằng: “Trước tai gọi là Quan. Huyệt ở tại mép tai trên ở chót đầu xương, nên gọi là Thượng quan“.

Tên Hán Việt khác: Khách chủ, Khách chủ nhân, Thái dương.

Huyệt thứ 3 thuộc Đởm kinh.

Đặc biệt: Hội của Thủ túc Thiếu-dương và Túc Dương-minh.

Mô tả huyệt:

1. Vị trí xưa: Góc trên trước tai ở đầu xương nổi lên khi há miệng thấy có hỏm (Giáp ất). Trước tai ở bờ trên đầu xương (Đồng nhân, Phát huy, Đại thành).

2. Vị trí nay: Xác định huyệt Hạ quan, đo thẳng lên ở bờ trên xương gò má. Huyệt ở chỗ hỏm bờ sau chân tóc mai.

3. Giải phẫu, Thần kinh: Dưới huyệt là cơ tai trước, cơ thái dương, xương thái dương – Thần kinh vận động cơ là nhánh dây mặt, nhánh sọ não số V. Da vùng huyệt chi phối bởi tiết đoạn thần kinh V3.

Tác dụng trị bệnh:

Tại chỗ, theo kinh: Ù tai, viêm tai giữa, đau răng cấm khẩu, liệt mặt.

Lâm sàng:

1. Kinh nghiệm tiền nhân: Phối Hạ quan trị liệt mặt (Tư sinh).

2. Kinh nghiệm hiện nay: Phối Cự liêu, Hợp cốc trị đau răng hàm trên. Phối Hạ quan, Thính cung, Hợp cốc trị cấm khẩu. Phối Thái dương, Ty trúc không, Hợp cốc, Ngoại quan trị đau đầu. Phối Cự liêu, Hòa liêu, Thừa tương, Đại nghênh trị liệt mặt.

Phương pháp châm cứu:

1. Châm: Thẳng, sâu 0,7 – 1 thốn.

2. Cứu: Không cứu.

3. Ôn cứu: 3 – 5 phút.

Tham khảo:

1. “Tố vấn – Khí phủ luận thiên” Vương Băng ghi rằng: “Thượng quan là nơi hội của Thủ túc Thiếu-dương, Túc Dương-minh”.

2. “Giáp ất” quyển thứ 10 ghi rằng: “Co giật, miệng sủi bọt mép”.

3. “Giáp ất” quyển thứ 11 ghi rằng: “Châm quá sâu làm cho tai người ta không nghe được”.

4.Tố vấn – Thích cấm luận thiên” ghi rằng: “Châm huyệt Khách chủ nhân sâu vào trống mạch bên trong làm rò bên trong gây điếc”.

5. “Giáp ất” quyển thứ 12 ghi rằng: “Đau tai, ù tai, dùng Thượng quan làm chủ nhưng không được châm sâu quá”.

6. “Giáp ất” quyển thứ 12 ghi rằng: “Đau sâu răng hàm trên, sợ lạnh, châm Thượng quan làm chủ”.

7.Đồng nhân” ghi rằng: “Cứng môi mép, điếc, co giật miệng chảy nước dãi, hoa mắt, cấm khẩu, liệt nửa người, liệt mặt, trong tai như ve kêu”.

8. Theo “Giáp ất” huyệt Thượng quan còn gọi là Khách chủ nhân.

Xem thêm

Vị trí

Tra cứu huyệt

Đặc biệt

Chủ trị

Xem thêm

Bài 7: Bổ Trung Ích Khí

Suy nhược cơ thể, tạp bệnh lâu năm và ứng dụng bài Bổ Trung Ích Khí (BTIK) Có nhiều người luôn cảm giác mệt mỏi...

Bài 5: Thuốc Lý Khí và Giáng Khí

Đường ruột dạ dày người bị bệnh tiêu hóa, thì niêm mạc cũng giống MIẾNG VẢI bị chôn trong đất bẩn lâu ngày kéo...

Bài 6: Quy Tỳ Thang

(Phương thuốc nổi tiếng trị chán ăn mất ngủ! Cũng như các bệnh lý về tim như loạn nhịp tim, hở van tim, suy...

Bài 4: Nhóm Thuốc Bổ Trị Bệnh Tiêu Hóa

Hệ tiêu hóa trong Đông y gọi là Tỳ Vị, thuộc hành Thổ. Trong đó Vị thổ thuộc quẻ Cấn, là núi, đất nhô...

Bài 3: Bình Vị Tán

(Phương thuốc điển hình trị dạ dày do ăn uống đạm thịt, rượu bia) Thương truật 12g Trần bì 4 - 12g Hậu phác 4 - 12g Cam...
error: Content is protected !!