spot_img

THỪA SƠN

Huyệt vùng

Đường kinh

Lượt xem

Mô tả huyệt

B 57 Chéngshàn (Tchreng Chann)

Xuất xứ: “Giáp ất“.

Tên gọi: – “Thừa” có nghĩa là giữ, nâng đỡ.

– “Sơn” có nghĩa là núi.

Huyệt nằm nơi cao nhất ở những cơ trên mặt sau của chân, ở đây nó được ví như một ngọn đồi nhỏ. Đồi nhỏ này là yếu tố quan trọng trong việc duy trì một thế thẳng đứng, do đó mà có tên là Thừa sơn.

Theo “Y kinh lý giải” ghi rằng: “Nói Thừa tức là chịu đựng trọng lượng toàn thân như núi, nên gọi là Thừa sơn“.

Tên Hán Việt khác: Ngư phúc, Nhục trụ, Trường sơn.

Huyệt thứ 57 thuộc Bàng-quang kinh.

Mô tả huyệt:

1. Vị trí xưa: Dưới bắp chân, chỗ hỏm của 2 khe bắp thịt (Giáp ất, Đồng nhân, Đại thành).

2. Vị trí nay: Khi điểm huyệt nảy bàn chân sẽ hiện rõ khe cơ. Huyệt dưới bắp cơ của cơ sinh đôi, ở điểm khoảng giữa gót chân và khoeo. Huyệt ngay chỗ hỏm (khi nảy chân sẽ có chữ Λ).

3. Giải phẫu, Thần kinh: Dưới huyệt là góc giữa cơ sinh đôi ngoài và trong, cơ dép, góc giữa cơ gấp dài các ngón chân và cơ gấp dài ngón chân cái, cơ chày sau, màng gian cốt – Thần kinh vận động cơ là các nhánh của dây chày sau. Da vùng huyệt chi phối bởi tiết đoạn thần kinh S2.

Hiệu năng của huyệt: Thư cân lạc, lương huyết, điều phủ khí, trị trĩ.

Tác dụng trị bệnh:

1. Tại chỗ, Theo kinh: Đau thắt lưng đùi, đau thần kinh hông, co rút bắp chân, liệt chi dưới.

2. Toàn thân: Trĩ, sa trực tràng.

Lâm sàng:

1. Kinh nghiệm tiền nhân: Phối Phục lưu, Thái xung, Thái bạch trị tiện huyết (Đại thành). Phối Giải khê, Thái bạch, Đái mạch trị sưng sau khi đại tiện (Đại thành). Phối Phục lưu trị ỉa chảy, ỉa ra máu (Đại thành). Phối Thương khâu trị trĩ (Đại thành). Phối Tỳ du, Tinh cung, Trường cường trị ỉa ra máu (Đại thành). Phối Trung phong trị ỉa chảy, vọp bẻ (Đại thành). Phối Thái khê trị đại tiện khó (Tư sinh).

2. Kinh nghiệm hiện nay: Phối Nhị bạch trị trĩ. Phối Trường cường, Thừa phò trị sưng ngứa đau nhức hậu môn. Phối Tam-âm giao trị viêm dịch hoàn. Phối Côn lôn trị đau gân gót gân. Phối Chiếu hải trị vọp bẻ bắp chân. Phối Chương môn, Bàng-quang du, Đại-trường du trị bí ỉa. Phối Ủy trung trị đau cột sống thắt lưng.

Phương pháp châm cứu:

1. Châm: Thẳng, sâu 1 – 2,5 thốn, tại chỗ có cảm giác căng tức có khi lan tới nhượng chân – Khi trị đay dây thần kinh hông, châm sâu có cảm giác như điện giật lan xuống đáy bàn chân.

2. Cứu: 3 – 5 lửa.

3. Ôn cứu: 5 – 15 phút.

Tham khảo:

1. “Giáp ất” quyển thứ 7 ghi rằng: “Chảy máu cam, chảy mũi nước, đau cột sống thắt lưng, bắp chân nặng đau, run không đứng lâu được, bắp chân như bị rách, đau co bắp chân gót chân, chân đau co dẫn đến vùng bụng dưới, sưng họng thanh quản đại tiện khó, chọn huyệt Thừa sơn làm chủ”.

2. “Thiên kim” ghi rằng: “Cứu Thừa sơn trị vọp bẻ, tùy theo tuổi để cứu bao nhiêu lửa, rất thần hiệu”.

3. “Đại thành” quyển thứ 6 ghi rằng: “Đại tiện bón, thương hàn thủy kết”.

4. “Đại thành” quyển thứ 9 ghi rằng: “Đại tiện xuống máu, dùng Thừa sơn, Tỳ du, Tinh cung, Trường cường, Hoắc loạn vọp bẻ dùng Thừa sơn, Trung phong”.

5.Ngọc long ca” ghi rằng: “Các loại trĩ rò dùng Thừa sơn và Trường cường” (Cửu ban trĩ lậu tối thương nhân, tất thích Thừa sơn hiệu nhược thần, cách hữu Trường cường nhất huyệt thị, thân ngâm đại thống huyệt vi chân).

6.Tạp bệnh huyệt pháp ca” ghi rằng: “Ngực tâm đầy tức dùng Âm Lăng-tuyền, ăn uống ngon châm Thừa sơn, vọp bẻ chân, hoa mắt dùng Nhiên cốc, Thừa sơn” (Tâm hông bĩ mãn Âm Lăng-tuyền, châm đáo Thừa sơn ẩm thực mỹ. Cước nhược chuyển cân nhãn phát hoa, Nhiên cốc, Thừa sơn pháp tự cổ).

7. Theo “Giáp ất“, huyệt Thừa sơn còn có tên khác là Ngư phúc, Nhục trụ. Theo “Y tâm phương” gọi là Trường sơn.

8. “Phối huyệt khái luận giảng nghĩa”: Thừa sơn là huyệt thuộc Túc Thái-dương Bàng-quang kinh, đường này đi xuống dọc theo cột sống. Bàng-quang và Thận có quan hệ biểu lý nên có thể làm điều hòa được khí ở Đại, Tiểu-trường và hạ tiêu – Túc Tam-lý từ ngực đi xuống bụng, có liên hệ biểu lý với Tỳ. Do đó, nó có thể làm sơ thông được khí trệ ở vùng ngực bụng. Thừa sơn phối với Túc Tam-lý có tác dụng thông điều trường vị. Một khi trường vị hòa thì nhiệt độc được thanh dĩ nhiên bệnh lỵ và trĩ sẽ khỏi. Tỳ Vị mạnh thì sinh tân dịch, khi gân mạch được nuôi dưỡng thì chứng vọp bẻ sẽ hết, bệnh ứ trệ sẽ thay đổi, khí trệ sẽ tiêu khí huyết điều hòa thì đau nhức lui. Kết hợp châm thêm Trung phong làm cho gân được thư thái không còn co rút, thêm Cách du làm cho hạ khí nghẹt ở ngực. Châm Tam lý, Thừa sơn có thể trị ứ huyết trong bụng.

9. Tại sao huyệt Thừa sơn lại trị được bệnh trĩ? – “Ngọc long ca” cho rằng: “Chín loại trĩ dò, châm Thừa sơn rất hiệu quả” (Cửu ban trĩ lậu tối thương nhân, cánh hữu Trường cường nhất huyệt thị, thân ngâm đại thống huyệt vi châm). Thừa sơn trị bệnh trĩ sao lại có công hiệu hay đến thế? Đây là do duyên cớ kinh biệt của kinh Túc Thái-dương Bàng-quang nhập vào hậu môn. “Linh khu – Kinh biệt” ghi rằng: “Kinh Túc Thái-dương chi chính, tách biệt nhập vào trong khoeo chân, một đường đi của nó đi xuống dưới xương cùng cụt 5 thốn, tách biệt nhập vào giang môn”. Thừa sơn là du huyệt của kinh Bàng-quang, khí của nó có thể đi theo kinh biệt thẳng đến hậu môn để có tác dụng nâng lên và tiêu sưng trĩ.

Xem thêm

Vị trí

Tra cứu huyệt

Đặc biệt

Chủ trị

Xem thêm

Bài 5: Thuốc Lý Khí và Giáng Khí

Đường ruột dạ dày người bị bệnh tiêu hóa, thì niêm mạc cũng giống MIẾNG VẢI bị chôn trong đất bẩn lâu ngày kéo...

Bài 7: Bổ Trung Ích Khí

Suy nhược cơ thể, tạp bệnh lâu năm và ứng dụng bài Bổ Trung Ích Khí (BTIK) Có nhiều người luôn cảm giác mệt mỏi...

Bài 6: Quy Tỳ Thang

(Phương thuốc nổi tiếng trị chán ăn mất ngủ! Cũng như các bệnh lý về tim như loạn nhịp tim, hở van tim, suy...

Bài 4: Nhóm Thuốc Bổ Trị Bệnh Tiêu Hóa

Hệ tiêu hóa trong Đông y gọi là Tỳ Vị, thuộc hành Thổ. Trong đó Vị thổ thuộc quẻ Cấn, là núi, đất nhô...

Bài 3: Bình Vị Tán

(Phương thuốc điển hình trị dạ dày do ăn uống đạm thịt, rượu bia) Thương truật 12g Trần bì 4 - 12g Hậu phác 4 - 12g Cam...
error: Content is protected !!