spot_img

THỪA CÂN

Huyệt vùng

Đường kinh

Lượt xem

Mô tả huyệt

B 56 Chéngjìn (Tchreng Tsinn)

Xuất xứ: “Giáp ất“.

Tên gọi: – “Thừa” có nghĩa là nâng đỡ hay giữ gìn.

– “Cân” có nghĩa là gân.

Châm huyệt này có thể làm mạnh thêm chức năng của gân ở chân để nâng đỡ cơ thể, do đó mà có tên Thừa cân.

Theo “Kinh huyệt thích nghĩa hội giải” ghi rằng: “Huyệt ở giữa chỗ hỏm của cơ dép, nói rằng “thừa” (nâng đỡ) phía dưới hai gân, phía sau gối chân, nên được gọi là Thừa cân“.

Tên Hán Việt khác: Đoan trường, Trực trường, Trực dương, Chuyên trường.

Huyệt thứ 56 thuộc Bàng-quang kinh.

Mô tả huyệt:

1. Vị trí xưa: Chính giữa bắp chân, nơi chỗ hỏm (Giáp ất, Đồng nhân, Phát huy, Đại thành).

2. Vị trí nay: Chính giữa cơ sinh đôi. Huyệt là trung điểm nối của 2 huyệt Thừa sơn và Hợp dương. Khi điểm huyệt nằm sấp nảy châm để tìm kẻ cơ.

3. Giải phẫu, Thần kinh: Dưới huyệt là khe giữa cơ sinh đôi ngoài và trong, cơ dép, cơ chày sau, màng gian cốt – Thần kinh vận động cơ là các nhánh của dây chày sau. Da vùng huyệt chi phối bởi tiết đoạn thần kinh S2.

Tác dụng trị bệnh:

1. Tại chỗ, theo kinh: Nhức đầu, đau cứng vai lưng, tê liệt hạ chi, đau bắp chân.

2. Toàn thân: Trĩ.

Lâm sàng:

Kinh nghiệm hiện nay: Phối Bộc tham, Trung đô, Trúc tân trị đau cơ sinh đôi. Phối Đại-trường du, Chi cấu, Túc Tam-lý, Tam-âm giao trị bón. Phối Túc Tam-lý, Ủy trung, Tam-âm giao trị tê liệt cơ sinh đôi. Phối Thừa phò, Thừa sơn trị đùi yếu thiếu sức.

Phương pháp châm cứu:

1. Châm: Thẳng 1 – 2 thốn.

2. Cứu: 3 lửa.

3. Ôn cứu: 5 – 20 phút.

Tham khảo:

1. “Giáp ất” quyển thứ 8 ghi rằng: “Nóng rồi đến lạnh đắp đổi, co giật, bắp chân nặng đau, run không đứng vững, sưng cẳng chân, đau mu bàn chân, rút gân chân, bụng dưới đau dẫn đến họng nấc, đại tiện khó, chọn Thừa cân làm chủ”.

2. “Giáp ất” quyển thứ 9 ghi rằng: “Đại trường thực thì đau lưng, thắt lưng, hàn tý chuyển gân vọp bẻ, đau xoàng đầu, hư thì mũi chảy máu cam, tâm thần phân liệt. Lưng, thắt lưng ra mồ hôi, chọn huyệt Thừa cân làm chủ”.

3. “Thiên kim” ghi rằng: “Thừa cân, Thừa phò, Ủy trung, Hợp dương trị đau do trĩ, sưng dưới nách”.

4. “Đại thành” quyển thứ 6 ghi rằng: “Thắt lưng-lưng, đại tiện bón, sưng nách sưng trĩ, lở trĩ, cẳng chân tê mất cảm giác, bắp chân đau rút tới gót chân, đau thắt lưng, chảy máu cam, chảy mũi nước, hoắc loạn vọp bẻ”.

5. Theo “Giáp ất” huyệt này còn gọi là Trực trường, Đoan trường.

Xem thêm

Vị trí

Tra cứu huyệt

Đặc biệt

Chủ trị

Xem thêm

Bài 5: Thuốc Lý Khí và Giáng Khí

Đường ruột dạ dày người bị bệnh tiêu hóa, thì niêm mạc cũng giống MIẾNG VẢI bị chôn trong đất bẩn lâu ngày kéo...

Bài 6: Quy Tỳ Thang

(Phương thuốc nổi tiếng trị chán ăn mất ngủ! Cũng như các bệnh lý về tim như loạn nhịp tim, hở van tim, suy...

Bài 7: Bổ Trung Ích Khí

Suy nhược cơ thể, tạp bệnh lâu năm và ứng dụng bài Bổ Trung Ích Khí (BTIK) Có nhiều người luôn cảm giác mệt mỏi...

Bài 4: Nhóm Thuốc Bổ Trị Bệnh Tiêu Hóa

Hệ tiêu hóa trong Đông y gọi là Tỳ Vị, thuộc hành Thổ. Trong đó Vị thổ thuộc quẻ Cấn, là núi, đất nhô...

Bài 3: Bình Vị Tán

(Phương thuốc điển hình trị dạ dày do ăn uống đạm thịt, rượu bia) Thương truật 12g Trần bì 4 - 12g Hậu phác 4 - 12g Cam...
error: Content is protected !!