spot_img

NGƯ TẾ

Huyệt vùng

Đường kinh

Lượt xem

Mô tả huyệt

L 10 Yújì (Iu Tsi)

Xuất xứ: “Linh khu – Bản du“.

Tên gọi: – “Ngư” có nghĩa là cá.

– “Tế” có nghĩa là lề, bờ.

Huyệt này nằm ở chỗ gặp nhau của da trắng và do đỏ. Huyệt nằm ở điểm giữa chiều dài của xương bàn tay 1, sự nhô lên của bắp thịt ở đây (bờ ngoài cơ dạng ngắn ngón tay cái) tương tự với chỗ gặp nhau nơi chỗ tiếp giáp của da gan tay và da mu tay ở nơi bụng con cá. Do đó mà có tên là Ngư tế.

Huyệt thứ 10 thuộc Tam-tiêu kinh.

Đặt biệt:Vinh huyệt”, thuộc “Hỏa”.

Mô tả huyệt:

1. Vị trí xưa: Trong tán mạch, ở phía sau đốt xương cuối ngón tay cái (Giáp ất, Đồng nhân, Phát huy).

2. Vị trí nay: Điểm giữa chiều dài của xương bàn tay 1. Huyệt trên chỗ tiếp giáp của da gan tay và da mu tay.

3. Giải phẫu, Thần kinh: Dưới huyệt là bờ ngoài cơ dạng ngắn ngón tay cái. Dưới là xương bàn tay 1. Thần kinh vận động cơ là các nhánh của dây thần kinh giữa. Da vùng huyệt chi phối bởi tiết đoạn thần kinh C6.

Hiệu năng của huyệt: Sơ Phế hòa Vị, lợi yết hầu, thanh Phế nhiệt.

Tác dụng trị bệnh:

1. Tại chỗ: Đau tay vùng ngón cái, nóng lòng bàn tay.

2. Theo kinh: Ho ra máu, suyễn.

3. Toàn thân: Viêm họng, viêm tuyến biên đào, mất tiếng, phát sốt, lao phổi.

Lâm sàng:

1. Kinh nghiệm tiền nhân: Phối Dịch môn trị đau họng (Bách chứng).

2. Kinh nghiệm hiện nay: Phối Cự cốt, Xích trạch trị ho ra máu. Phối Thần môn, Khúc tuyền trị xuất huyết phổi. Phối Phế du trị ho trẻ con. Phối Thừa sơn, Côn lôn trị vọp bẻ. Phối Dịch môn, Thiếu thương trị đau tắt họng. Phối Nhũ căn, Thiếu trạch, Thái xung trị ung nhọt ở vú. Phối Thần môn, Liêm tuyền trị mất tiếng.

Phương pháp châm cứu:

1. Châm: Thẳng, sâu 0.5 – 1 thốn, tại chỗ có cảm giác căng tức.

2. Cứu: 3 lửa.

3. Ôn cứu: 1 – 3 phút.

Tham khảo:

1. “Linh khu – Nhiệt bệnh” ghi rằng: “Nhiệt bệnh, mà mồ hôi vẫn ra, vả lại mạch thuận có thể châm phát mồ hôi ra, nên chọn huyệt Ngư tế, Thái uyên, Đại đô, Thái bạch. Châm tả các huyệt này sẽ làm cho nhiệt giảm lui, châm bổ thì làm cho mồ hôi ra”.

2.Linh khu – Quyết bệnh” ghi rằng: “Chứng quyết tâm thống nếu nằm hoặc nhàn rỗi thì tâm thống được giảm bớt, khi nào có động tác thì sự đau đớn sẽ tăng thêm, không biến sắc mặt được gọi là Phế tâm thống, chọn huyệt Ngư tế, Thái uyên”.

3. “Giáp ất” quyển thứ 7 ghi rằng: “Hàn quyết và nhiệt làm bồn chồn bứt rứt trong ngực, không đủ khí để thở, ngứa lở sinh dục, đau bụng, không ăn uống được, khuỷu tay co, thủy khí đầy ở hung cách, trong họng khô, khát nước, dùng huyệt Ngư tế làm chủ”.

4. “Giáp ất” quyển thứ 8 ghi rằng: “Khạc ra máu, khi sốt khi lạnh, nên tả huyệt Ngư tế, bổ Xích trạch”.

5. “Giáp ất” quyển thứ 9 ghi rằng: “Tâm tý hụt hơi, buồn giận làm khí nghịch, dễ cuồng nộ, dùng huyệt Ngư tế để châm”.

6. Thiên kim” quyển thứ 23 ghi rằng: “Sau khi sinh nên bóp vú, không nên để sữa bị tích đình lại, nếu đình tích không hết… sẽ kết thành cứng vú nhưng không phải nhọt, mau cứu hai huyệt Ngư tế, mỗi bên 27 lửa”.

7. “Đại thành” quyển thứ 6 ghi rằng: “Huyệt Ngư tế chủ trị về bệnh do rượu sợ phong hàn, có hư nhiệt, trên lưỡi vàng, đau đầu mình nóng, ho ọe, thương hàn mồ hôi không ra ngoài, phong tý chạy vào làm đau ngực vai, tiểu ra máu, nôn ra máu, tâm tý làm buồn sợ nhọt vú”.

8. “Bách chứng phú” ghi rằng: “Đau trong họng dùng huyệt Dịch môn, Ngư tế để trị” (Hầu thống hề, Dịch môn, Ngư tế khứ hiệu).

9. Căn cứ theo “Linh khu – Bản du” ghi rằng, huyệt này là “Vinh huyệt” của Thủ Thái-âm kinh.

10. “Tố vấn – Thích cấm luận” ghi rằng: “Châm vào chỗ hõm trong bụng cá (ngư phúc) ở tay sẽ làm cho sưng lên”.

11. “Đại thành” ghi rằng: “Cấm cứu huyệt Ngư tế”.

12. “Kim giám” ghi rằng: “Duy chỉ có chứng đau răng thì có thể cứu huyệt Ngư tế”. Trên lâm sàng chúng ta không nên cứu, nếu cần cứu thường không quá 3 phút.

13. “Phối huyệt khái luận giảng nghĩa” ghi rằng: “Ngư tế là Vinh huyệt của Thủ Thái-âm Phế kinh, thuộc Hỏa huyệt trong ngũ du. Châm tả huyệt này có tác dụng thanh hỏa ở Phế. Thái khê là du huyệt của kinh Túc Thiếu-âm Thận, nó là nguyên huyệt của Thận. Châm bổ có tác dụng tư Thận âm, lui hư nhiệt, thượng thì được thanh, hạ thì được tư, làm cho âm dương giao hòa theo quẻ Thái. Nó có giá trị tương đương thang “Thanh táo cứu phế“, chọn huyệt Ngư tế là để thanh nhuận Phế. Châm Thái khê để bổ Thận âm nhầm chế Tâm hỏa. Khi hỏa không còn bốc lên thì kim sẽ không bị khắc, các chứng hư lao sẽ bình yên.

Xem thêm

Vị trí

Tra cứu huyệt

Đặc biệt

Chủ trị

Xem thêm

Bài 6: Quy Tỳ Thang

(Phương thuốc nổi tiếng trị chán ăn mất ngủ! Cũng như các bệnh lý về tim như loạn nhịp tim, hở van tim, suy...

Bài 7: Bổ Trung Ích Khí

Suy nhược cơ thể, tạp bệnh lâu năm và ứng dụng bài Bổ Trung Ích Khí (BTIK) Có nhiều người luôn cảm giác mệt mỏi...

Bài 5: Thuốc Lý Khí và Giáng Khí

Đường ruột dạ dày người bị bệnh tiêu hóa, thì niêm mạc cũng giống MIẾNG VẢI bị chôn trong đất bẩn lâu ngày kéo...

Bài 4: Nhóm Thuốc Bổ Trị Bệnh Tiêu Hóa

Hệ tiêu hóa trong Đông y gọi là Tỳ Vị, thuộc hành Thổ. Trong đó Vị thổ thuộc quẻ Cấn, là núi, đất nhô...

Bài 3: Bình Vị Tán

(Phương thuốc điển hình trị dạ dày do ăn uống đạm thịt, rượu bia) Thương truật 12g Trần bì 4 - 12g Hậu phác 4 - 12g Cam...
error: Content is protected !!