spot_img

LIỆT KHUYẾT

Huyệt vùng

Đường kinh

Lượt xem

Mô tả huyệt

Xuất xứ: “Linh khu – Kinh mạch“.

Tên gọi: – “Liệt” có nghĩa là tình trạng phân kỳ hay tách ra.

– “Khuyết” có nghĩa là thiếu đi, chỗ hõm hoặc khe hổng.

Huyệt nằm ở trên cổ tay nơi mỏm xương quay hình trâm, nơi có lỗ hỏm nó được xem như là lỗ hổng khuyết của tay và huyệt này lại là biệt lạc của kinh Thủ Thái-âm Phế, từ nơi đó nó có một nhánh tách ra kinh Thủ Dương-minh. Do đó mà có tên là Liệt khuyết.

Tên Hán Việt khác: Đồng huyệt, Uyển lao.

Huyệt thứ 7 thuộc Phế kinh.

Đặc biệt: Lạc huyệt của Thủ Thái-âm, biệt tẩu Dương-minh. Một trong bát mạch thông ở Nhâm mạch.

Mô tả huyệt:

1. Vị trí xưa: Trên khớp cổ tay 1,5 thốn (Giáp ất). Chắp 2 bàn tay giữa hổ khẩu (ngón tay cái và trỏ), nơi đầu ngón trỏ cách cườm tay 1,5 thốn là huyệt làm dấu bàn tay ra, để nghiêng một bên chỗ huyệt đưa lên, lấy ngón tay đè chỗ gần xương ấy có hõm là huyệt (Đại thành).

2. Vị trí nay: Dưới xương quay nối với thân xương, trên khớp cổ tay 1,5 thốn. Khi điểm huyệt làm động tác gấp ngửa bàn tay để tìm gân cơ ngửa dài. Huyệt trước và trong gân cơ ngửa dài.

3. Giải phẫu, Thần kinh: Dưới huyệt là bờ trong trước của gân cơ ngửa dài, cơ gấp dài ngón cái, chỗ bám của cơ sấp vuông vào xương quay – Thần kinh vận động cơ là nhánh của dây thần kinh giữa. Da vùng huyệt chi phối bởi tiết đoạn thần kinh C6.

Hiệu năng của huyệt: Tuyên phế khu phong, sơ kinh thông lạc, thông điều Nhâm mạch.

Tác dụng trị bệnh:

1. Tại chỗ: Đau sưng cổ tay.

2. Theo kinh: Ho, đau ngực.

3. Toàn thân: Đau thần kinh 3 nhánh, cảm cúm, viêm khí quản, tiểu khó, các bệnh ở cổ gáy.

Lâm sàng:

1. Kinh nghiệm tiền nhân: Phối Kinh cừ, Thái uyên trị nóng trong lòng bàn tay (Đại thành). Phối Thái uyên trị ho phong đàm (Ngọc long). Phối Hậu khê trị đau ngực, cổ (Thiên kim thập nhất huyệt). Bệnh ở đầu cổ thì tìm huyệt Liệt khuyết (Càn khôn sanh ý).

2. Kinh nghiệm hiện nay: Phối Hậu khê trị đau đầu cổ. Phối Dương khê trị viêm gân cơ dạng dài và gân cơ duỗi ngón tay cái. Phối Hợp cốc trị đau răng. Phối Thiếu thương, Hợp cốc, Ngư tế trị sưng tắc họng. Phối Chiếu hải trị ho mãn tính.

Phương pháp châm cứu:

1. Châm: Xiên, hướng mũi kim vào khớp khủyu tay, sâu 0,5 – 1 thốn, có cảm giác căng tức tại chỗ, đồng thời hướng lan tới khớp khuỷu tay. Khi trị viêm gân cơ dạng dài có thể hướng mũi kim ra ngoài, sâu 0,5 – 1 thốn, có cảm giác căng tức tại chỗ.

2. Cứu: 3 – 5 lửa.

3. Ôn cứu: 5 – 15 phút.

Tham khảo:

1. “Giáp ấtquyển thứ 7 ghi rằng: “Nhiệt bệnh trước tiên thấy tay co giật, môi khô, mũi phập phồng, dưới mắt mồ hôi rịn ra như hạt châu, dưới rốn hai thốn cứng, đầy tức sườn hông, hồi hộp, dùng huyệt Liệt khuyết làm chủ”.

2. “Giáp ấtquyển thứ 12 ghi rằng: “Trẻ con động kinh, dùng huyệt Liệt khuyết, đồng thời chọn Dương-minh lạc”.

3. “Thiên kimquyển thứ 19 ghi rằng: “Nam giới đau trong dịch hoàn, tiểu ra máu tinh, cứu Liệt khuyết 50 lửa”.

4. “Đại thànhquyển thứ 6 ghi rằng: “Liệt khuyết chủ về trúng phong làm miệng méo mắt xếch, tay khuỷu yếu sức, bán thân bất toại, nóng trong lòng bàn tay, cấm khẩu, sốt rét, khi nóng khi lạnh, nôn ra bọt dãi, ho, thích cười, môi miệng há mở, hay quên, tiểu ra máu, tinh xuất đau đớn ở dương vật, tiểu tiện nóng, động kinh, tứ chi mặt mắt phù húp, đau nhức khớp vai, lưng ngực lạnh run, không đủ khí để thở, lạnh toát cả người. Thực thì ngực lưng nóng, ra mồ hôi, tay chân thũng húp nhanh dữ. Hư thì ngực lưng lạnh run, khí thiếu không đủ để thở”.

5. “Trửu hậu ca” ghi rằng: “Thương hàn nhiệt chưa lui, răng ngậm chặt, cứng cổ gáy, nảy ngược, mắt trợn ngược, nên châm huyệt Liệt khuyết”.

6. “Thông huyệt chỉ yếu phú” ghi rằng: “Ho hàn đàm, châm huyệt Liệt khuyết” (Khái thấu hàn đàm, Liệt khuyết kham trị).

7. “Tạp bệnh huyệt pháp ca” ghi rằng: “Suyễn gấp dùng huyệt Liệt khuyết, Túc Tam-lý” (Suyễn cấp Liệt khuyết, Túc Tam-lý).

8. “Tứ tổng huyệt ca” ghi rằng: “Bệnh ở đầu cổ nên dùng huyệt Liệt khuyết” (Đầu hạng tầm Liệt khuyết).

9. “Linh quang phú” ghi rằng: “Đau đầu chính giữa hoặc một bên đầu tả Liệt khuyết” (Thiên chính đầu thống tả Liệt khuyết).

10. Căn cứ theo “Linh khu – Kinh mạch” ghi huyệt này là “Lạc huyệt” của Thủ Thái-âm. Liệt khuyết cũng là một trong giao hội của Bát mạch thông với Nhâm mạch.

11. “Tố vấn – Thích cấm luận thiên” ghi rằng: “Châm vào Thái-âm mạch ở tay ra huyết nhiều làm người chết ngay”. Khi châm ở Thủ Thái-âm trên cánh tay lở nhằm mạch máu làm chảy nhiều, nên xử trí cầm máu.

12. “Châm cứu Đại thành” ghi trong “Tứ tổng huyệt ca” rằng: “Đỗ phúc Tam lý lưu, Yêu bối Ủy trung cầu, Đầu hạng tầm Liệt khuyết, Diện khẩu Hợp cốc thâu“, tại sao bệnh ở đầu cổ lại dùng tới huyệt Liệt khuyết? – Phế kinh tuy chưa tuần hành lên đến đầu cổ, nhưng nó có quan hệ biểu lý với đường kinh Đại trường. Liệt khuyết là “Lạc huyệt” của Phế kinh thông với Đại trường kinh, mà Đại trường kinh chạy từ tay lên đến đầu, chạy lên trên đến cổ gáy miệng răng. Vì thế, Liệt khuyết chuyên trị các bệnh chứng ở đầu cổ. Mặt khác, Phể chủ bì mao của toàn thân, khi ngoại cảm phong hàn cũng thường xuất hiện chứng đau cứng đầu gáy. Huyệt Liệt khuyết nhờ tác dụng sơ phong giải biểu tuyên Phế thông lạc, nên cũng có thể thiện trị ở cổ gáy.

Xem thêm

Vị trí

Tra cứu huyệt

Đặc biệt

Chủ trị

Xem thêm

Bài 7: Bổ Trung Ích Khí

Suy nhược cơ thể, tạp bệnh lâu năm và ứng dụng bài Bổ Trung Ích Khí (BTIK) Có nhiều người luôn cảm giác mệt mỏi...

Bài 6: Quy Tỳ Thang

(Phương thuốc nổi tiếng trị chán ăn mất ngủ! Cũng như các bệnh lý về tim như loạn nhịp tim, hở van tim, suy...

Bài 5: Thuốc Lý Khí và Giáng Khí

Đường ruột dạ dày người bị bệnh tiêu hóa, thì niêm mạc cũng giống MIẾNG VẢI bị chôn trong đất bẩn lâu ngày kéo...

Bài 4: Nhóm Thuốc Bổ Trị Bệnh Tiêu Hóa

Hệ tiêu hóa trong Đông y gọi là Tỳ Vị, thuộc hành Thổ. Trong đó Vị thổ thuộc quẻ Cấn, là núi, đất nhô...

Bài 3: Bình Vị Tán

(Phương thuốc điển hình trị dạ dày do ăn uống đạm thịt, rượu bia) Thương truật 12g Trần bì 4 - 12g Hậu phác 4 - 12g Cam...
error: Content is protected !!