spot_img

HOA-ĐÀ GIÁP TÍCH

Huyệt vùng

Đường kinh

Lượt xem

Mô tả huyệt

Ex – B2 Jíaji (Huà Tuó Jìa Jí, Tuó Ji)

Xuất xứ: “Trửu hậu bị cấp phương“.

Tên gọi: – “Giáp” có nghĩa là ở bên hay bên cạnh.

– “Tích” có nghĩa là cột sống.

Huyệt nằm dọc hai bên cột sống. Còn được gọi là “Hoa-Đà giáp tích” (Huatuojiaji) bởi người ta cho rằng Hoa Đà là vị thầy thuốc đã phát hiện ra và là người đầu tiên dùng tới nó, nên gọi là Hoa-Đà giáp tích.

Tên Hán Việt khác: Đà tích, Giáp tích.

Đặc biệt: Kỳ huyệt.

Mô tả huyệt:

1. Vị trí xưa: Hai bên cột sống lưng chính giữa huyệt xương lớn, đo ra mỗi bên 1 thốn (Trửu hậu bị cấp phương).

2. Vị trí nay: Từ dưới gai sau đốt sống lưng thứ 1 đến dưới gai sau đốt sống thắt lưng 5, đường giữa cột sống ngang ra 0,5 thốn, mỗi bên có 17 huyệt hai bên cộng 34 huyệt.

3. Giải phẫu, Thần kinh: Dưới huyệt từ cạn đến sâu có: Từ đốt sống lưng 1 đến đốt sống lưng 5 là cơ thang, từ lưng 1 đến lưng 4 thêm cơ trám, từ lưng 1 đến lưng 3 thêm cơ răng bé sau-trên. Từ đốt sống lưng 6 đến đốt sống lưng 12 là cơ thang, cơ lưng to, ở đốt sống lưng 11 và 12 thêm cơ răng bé sau-dưới. Từ đốt sống thắt lưng 1 đến đốt sống thắt lưng 5 là cân cơ lưng to, ở đốt sống thắt lưng 1 và 2 thêm cơ răng bé sau-dưới. Dưới lớp sâu là khối cơ rãnh cột sống như cơ gian-gai, cơ bán gai, cơ ngang gai. Các đốt sống và khoảng gian, đốt sống – Thần kinh vận động cơ là một nhánh của dây thần kinh sọ não số 11, nhánh của đám rối cổ sâu, nhánh của đám rối cánh tay và các nhánh của các rễ thần kinh sống.

Tác dụng trị bệnh:

Ho, suyễn, lao phổi, viêm khí quản, suy nhược thần kinh, các loại bệnh mãn tính, bệnh trường vị, các loại bệnh thuộc gan mật, tiết niệu, sinh dục, đau vai lưng, thắt lưng, liệt bại.

Phương pháp châm cứu:

1. Châm: Thẳng, dùng khi châm vào rễ thần kinh thì hơi hướng mũi kim vào bên trong một chút, sâu 1,5 thốn (ở đốt sống cổ, lưng) và 2,5 thốn (ở đốt thắt lưng) khi kích thích tại chỗ có cảm giác như điện giật tới tứ chi hoặc lan ra 2 bên sườn.

Châm xiên, trong trường hợp khi bị viêm khớp đốt sống thì nên châm mũi kim lên trên đốt sống, dưới da sâu 1 – 1,5 thốn, hoặc châm huyệt này xuyên qua huyệt kia 2 – 3 thốn khi kích thích có cảm giác căng tức tại chỗ.

2. Cứu: 3 – 7 lửa.

3. Ôn cứu: 5 – 20 phút.

Tham khảo:

1. “Hậu hán thư” ghi rằng: “Hoa Đà biệt truyện ghi rằng, có bệnh nhân chân đi khập khễnh khó đi lại. Hoa Đà chẩn mạch, bảo bệnh nhân cởi bỏ áo quần, điểm 10 chỗ nơi lưng, mỗi nơi đo ra 1 thốn hoặc 5 phân, cứu vào nơi đây mỗi nơi 7 lửa, sau khi vết thương của cứu lành thì đi được. Sau khi cứu lành mà cứu lại đợt khác ở Giáp tích trên dưới 1 thốn, có thể đi đứng thẳng được”.

2. “Trửu hậu bị cấp phương” ghi rằng: “Dùng ngón tay véo da xương cột sống ở nơi đó, dưới sâu đau thì kéo lên từ xương cụt cho tới đỉnh là được, nếu chưa đỡ thì làm tiếp”.

3. “Thôi nã tiên thuật” ghi rằng: “Thương hàn đau nhức các khớp xương, ở từ đó dùng ngón tay xoay đẩy đến xương cụt”.

4. “Tiểu nhi thôi nả quảng ý” ghi rằng: “Cột sống lưng từ dưới chậm từ từ nắn đi lên, mặc dù người lớn có thể nôn”.

5. “Châm cứu khổng huyệt cập kỳ liệu pháp tiện lãm” ghi rằng: “Đà tích là kỳ huyệt,… cứu 3 – 7 lửa (mỗi lần cứu có thể chọn dùng 3 – 5 huyệt, tức là 6 – 10 điểm, thay nhau để dùng vòng quanh như thế), chủ trị suy nhược thần kinh, lao phổi, viêm khí quản, gầy gò suy nhược”.

6. “Châm cứu kinh ngoại kỳ huyệt đồ phổ” ghi rằng: “Huyệt này vị trí có sách nói rằng ở tại chính giữa cột sống lưng-thắt lưng đo ra mỗi bên 8 phân, có thể châm 5 phân đến 1 thốn rưỡi, hoặc vừa châm vừa cứu, để trị viêm cột sống do phong thấp, đau nhức cột sống thắt lưng”.

7. “Niết tích” tức là vuốt dọc theo hai bên cột sống là phương pháp phòng trị bệnh bằng cách véo da vùng cơ hai bên cột sống để chữa bệnh cam tích trẻ con, kém ăn, tiêu chảy, táo bón, ho suyễn, khóc đêm, đái dầm. Dùng cho người lớn để trị mất ngủ, suy nhược thần kinh, rối loạn tiêu hóa, kinh nguyệt không đều, làm tăng sức khỏe.

8. Huyệt này theo “Trửu hậu bị cấp phương” gọi là Giáp tích, theo “Trung quốc châm cứu học” gọi là Hoa-Đà giáp tích.

9. “Trửu hậu” ghi rằng: “Phương pháp của Hoa Đà nói sách “Thiên kim dực” ghi rằng: “Chữa chứng hoắc loạn vọp bẻ, bảo bệnh nhân nằm sấp, xuôi duỗi hai tay sát người, lấy dây vòng ngang hai cùi chỏ, ngay hai bên dưới dây giữa xương sống, mỗi nơi đo ra 1,5 thốn gọi là Giáp-tích huyệt, cứu vào 100 lửa”.

10. “Dưỡng chơn tập” ghi rằng: “Trong thân người có mạch, kể ra 12 bộ Chính kinh và 8 bộ Kỳ kinh. Nhưng chỉ có 2 mạch Nhâm, Đốc là quan hệ nhất đến việc sinh tử của con người. Với kẻ phàm phu thì mạch Nhâm ở nơi bụng bắt dưới mà đi lên trên, còn mạch Đốc ở sau lưng bắt trên mà đi xuống dưới, trước sau hai mạch gián cách với nhau, cho nên hóa cơ (máy sinh hóa) mất căn bản. Bởi cớ ấy nên mạng sống tùy theo khí bẩm yếu mạnh mà ra ngắn dài. Tiên gia biết được mạch Nhâm là chỗ tổng hội các phần âm, còn mạch Đốc là nơi thống nhiếp các phần dương. Hai mạch nếu thông, thì trăm mạch đều thông. Cho nên Tiên gia thối âm phù, tiến dương hỏa, làm phép vận chuyển Hà xa. Hà xa là bánh xe quay nước để chở dược vật (thuốc của Tiên gia). Vận chuyển hà xa cho thông hai mạch, lên thì gọi là Tiến, xuống thì gọi là Thối. Theo phép này thì phải ngưng thần nhập Khí huyệt, ấy gọi là Qui căn; thần khí giữ nhau, khắng khít không rời. Chờ đến khi tịnh cực (tịnh đến cực điểm) rồi thì phát động, ấy là thần trở lại thừa khí mà thượng thăng nơi Ne-hườn cung. Chừng đó đường Hà xa mới thông. Phải biết đường Hà xa, tức là hai mạch Nhâm Đốc của thân ta đó. Hồi khí mới phát sinh, nó uất chưng, Uất chưng, có nghĩa là nước nhờ có lửa nấu chưng nên sinh ra khí, càng nhiều càng mạnh, bồng bột như trong nồi nước sôi đậy nắp kín nơi khoảng giữa hai quả Thận, tràng dẫy lên trên Ngũ du, Ngũ du là năm thứ huyệt ăn vô ngũ tạng. Ấy là kinh thủy loạn hành, chẳng còn do nơi mương rãnh nữa. Ta mau đem thần chuyển về Vĩ lư, rồi lên tới Giáp-tích. Giáp tích khó qua thì lưỡi trụ ổ gà, khiến nó lên Phong phủ mà thẳng tuốt tới Nê-hườn. Thần với khí giao hội nơi chỗ đó, thì mới nghe trong mình thư thái điều hòa. Một chút thì nó biến ra cam lộ. Mau lấy lưỡi dẫn nó từ trên Thước kiều mà đi xuống khai thông Hội-yết, qua Trùng-lâu, dạo Giáng-cung, trở về chỗ chứa nó (Khí huyệt) thì nghỉ. Gội rưới giáp vòng như vậy lâu rồi thuần thục, khí mãn ba điền. Ba điền là ba Đơn-điền, chỗ dưỡng đơn. Dưới trên giao thái. Đây là chỗ gọi:

Thường sử khí thông, quan thấu tiết,

Tự nhiên tinh mãn, Cốc tồn thần.

Nghĩa là:

Vận khí thông quan, xoi cốt tiết,

Tự nhiên tinh đủ, dưỡng ngươn thần.

Bạch Tẫn lão nhân nói rằng: “Từ chỗ: Theo phép này… sắp xuống mấy câu, muôn quyển Đơn kinh chẳng nói ra ngoài vòng đó. Nói ra ngoài vòng đó là bàng môn. Chỗ Lão Tử gọi rằng: Trí hư cực, thủ tịnh đốc, vạn vật tịnh tác, ngô dĩ quan kỳ phục. Nghĩa là: Phăng chỗ hư trống (trống) cho cùng bực, giữ lòng tịnh (lặng) cho hết sức, thì muốn vật đều phát hiện (hư trung sanh thực, vô trung sanh hữu), ta nhân đó mà thấy lại được bản lai hư tinh là cái tâm của ta hồi ban sơ, tức là nói vào đây. (Theo kinh Dịch, âm cực thì nhất dương trở lại sinh nơi dưới, gọi là quẻ Phục. Phục là cái Đạo sinh sinh vô cùng chẳng dứt). Phải biết quí nó ! ráng giữ lấy nó ! Nhất là nguyện kẻ thượng đẳng căn kết hết lòng làm theo đó”.

11. Các huyệt Trụ trắc, Vị nhiệt, Trung suyễn, Tỳ nhiệt, Thận nhiệt, Thận tích… đều ở trong Giáp tích.

12. Thường có thể kích thích bằng Mai hoa châm, ngày xưa trẻ con người ta thường hay bồng ngược rồi thuận tay vuốt dọc hai bên cột xương sống để trẻ mau lớn và kích thích tiêu hóa, chống còi và làm cho cột sống thẳng.

13. Hiện nay, huyệt này được các nhà châm cứu phân chia ra như sau: Từ xương cổ thứ nhất đến xương thắt lưng thứ 5, từ mỗi gai đốt sống đo ra 0,5 – 1 thốn, cộng cả hai bên phải trái là 48 huyệt. Những huyệt từ xương cùng 2 – 4 cũng đo như trên (có sách có thể lấy huyệt Bát liêu để thay thế). Về phương diện chọn huyệt và phối huyệt có thể căn cứ vào sự phân bổ của kinh mạch, gốc phân bố thần kinh và tiết đoạn thần kinh hoặc áp thống điểm ở đó… để chọn huyệt. Về phương diện điều trị có thể căn cứ vào như sau: Huyệt Giáp tích ở đốt sống cổ 1-4 trị bệnh ở đầu; sống cổ 1-7 trị bệnh ở cổ gáy; sống cổ thứ 4-sống lưng 1 trị bệnh ở chi trên; sống cổ 3-sống lưng 9 trị bệnh ở nội tạng xoang ngực, thành ngực; sống lưng 5-thắt lưng 5 trị bệnh ở nội tạng của xoang bụng; sống lưng 11-cùng 2 trị bệnh ở thắt lưng, lưng cùng; thắt lưng 2-lưng cùng 2 trị bệnh ở chi dưới; thắt lưng 1 lưng cùng 4 trị bệnh nội tạng của hố chậu, thống điểm ở đó… để chọn huyệt. Về phương diện điều trị có thể căn cứ vào như sau: Huyệt Giáp tích ở đốt sống cổ 1-4 trị bệnh ở đầu; sống cổ 1-7 trị bệnh ở cổ gáy; sống cổ 4-sống lưng 1 trị bệnh ở chi trên; sống cổ 3-sống lưng 9 trị bệnh ở nội tạng xoang ngực, thành ngực; sống lưng 5-thắt lưng 5 trị bệnh ở nội tạng của xoang bụng; sống lưng 11-cùng 2 trị bệnh ở thắt lưng, lưng cùng; thắt lưng 2-lưng cùng 2 trị bệnh ở chi dưới; thắt lưng 1-lưng cùng 4 trị bệnh nội tạng của hố chậu.

Xem thêm

Vị trí

Tra cứu huyệt

Đặc biệt

Chủ trị

Xem thêm

Bài 5: Thuốc Lý Khí và Giáng Khí

Đường ruột dạ dày người bị bệnh tiêu hóa, thì niêm mạc cũng giống MIẾNG VẢI bị chôn trong đất bẩn lâu ngày kéo...

Bài 7: Bổ Trung Ích Khí

Suy nhược cơ thể, tạp bệnh lâu năm và ứng dụng bài Bổ Trung Ích Khí (BTIK) Có nhiều người luôn cảm giác mệt mỏi...

Bài 6: Quy Tỳ Thang

(Phương thuốc nổi tiếng trị chán ăn mất ngủ! Cũng như các bệnh lý về tim như loạn nhịp tim, hở van tim, suy...

Bài 4: Nhóm Thuốc Bổ Trị Bệnh Tiêu Hóa

Hệ tiêu hóa trong Đông y gọi là Tỳ Vị, thuộc hành Thổ. Trong đó Vị thổ thuộc quẻ Cấn, là núi, đất nhô...

Bài 3: Bình Vị Tán

(Phương thuốc điển hình trị dạ dày do ăn uống đạm thịt, rượu bia) Thương truật 12g Trần bì 4 - 12g Hậu phác 4 - 12g Cam...
error: Content is protected !!