spot_img

HẬU KHÊ

Huyệt vùng

Đường kinh

Lượt xem

Mô tả huyệt

SI 3 Hoù xí (Reou Tsri)

Xuất xứ: “Linh khu – Bản du“.

Tên gọi: – “Hậu” có nghĩa là sau hay đằng sau.

– “Khê” có nghĩa là khe, suối.

Huyệt nằm ngay đằng sau đầu nhỏ của xương bàn tay thứ 5, trên cuối nếp gấp ngang của lòng bàn tay, nó cao hơn Tiền cốc. Ngoài ra, vị trí của huyệt này là nơi cơ bắt đầu trở nên nhiều hơn, dồi dào hơn, giống như nước tích lũy để tạo thành 1 dòng suối, do đó mà có tên là Hậu khê (suối sâu).

Theo “Kinh huyệt thích nghĩa hội giải” ghi rằng: “Huyệt ở bờ ngoài ngón út sau chỗ trũng ở khớp này, khi bàn tay nắm lại, đè vào đó có chỗ giống như nơi cong của khe nhỏ nên gọi là Hậu khê“.

Huyệt thứ 3 thuộc Tiểu-trường kinh.

Đặc biệt:Du huyệt” thuộc “Mộc“. Một trong Bát mạch giao hội huyệt thông với Đốc mạch.

Mô tả huyệt:

1. Vị trí xưa: Chỗ hõm phía sau đốt gốc ngón tay út ở ngoài (Đồng nhân, Phát huy, Đại thành).

2. Vị trí nay: Nắm bàn tay lại, nơi chỗ hõm của khớp xương ngón tay út và xương bàn tay. Huyệt ở trên đường tiếp giáp da gan tay – mu tay ở bờ trong bàn tay ngang với đầu trong đường vân tim ở bàn tay.

3. Giải phẫu, Thần kinh: Dưới huyệt là cơ dạng ngón út, bờ trong cơ gấp ngắn ngón tay, cơ ngón út, bờ trong đầu dưới xương bàn tay số 5 – Thần kinh vận động cơ là các nhánh của dây thần kinh trụ. Da vùng huyệt chi phối bởi tiết đoạn thần kinh C8.

Hiệu năng của huyệt: Thanh thần chí, đuổi nội nhiệt, thông Đốc mạch, củng cố biểu phận, thư cân mạch.

Tác dụng trị bệnh:

1. Tại chỗ, Theo kinh: Ngón tay út co duỗi khó, đau cứng cổ gáy, đau đầu, ù tai.

3. Toàn thân: Động kinh, sốt rét, tâm thần phân liệt, mồ hôi trộm, suy nhược thần kinh.

Lâm sàng:

1. Kinh nghiệm tiền nhân: Phối Hoàn khiêu trị đau vế đùi (Bách chứng). Phối Lao cung trị hoàng đản (Bách chứng). Phối Hợp cốc trị chứng đàm, hàn nhiệt (Đại thành). Phối Gian sứ, Bách lao, Khúc trì trị nhiệt nhiều hàn ít (Đại thành). Phối Bách lao, Khúc trì trị hàn nhiều nhiệt ít (Đại thành). Phối Âm khích trị ra mồ hôi trộm (Bách chứng). Phối Cưu vĩ, Thần môn trị động kinh (Thắng ngọc). Phối Liệt khuyết trị đau ngực, cổ (Thiên kim thập nhất huyệt).

2. Kinh nghiệm hiện nay: Phối Gian sứ, Đại chùy trị sốt rét cách nhật. Phối Phong phủ trị đau đầu, đau cổ. Phối Nhân trung, Điều khẩu thấu tới Thừa sơn, Đại chùy trị nóng bỏng vùng lưng vai. Phối Ân môn, Áp thống điểm, huyệt tương ứng 2 bên cột sống trị bổ tê cấp tính vùng lưng, hoặc tổn thương vì lao động mãn tính. Phối Phong trì, Bách hội trị nhức đầu hoa mắt. Phối Đại chùy trị sốt rét. Phối Âm khích trị ra mồ hôi trộm. Phối Thân mạch trị đau nhức ở đầu xuống vai.

Phương pháp châm cứu:

1. Châm: Thẳng, khi châm bóp bàn tay lại để châm cho dễ, sâu 1,5 – 2 thốn, tại chỗ có cảm giác căng tức có thể lan tới cả bàn tay. Khi điều trị ngón tay co rút có thể châm mũi kim tới Hợp cốc.

2. Cứu: 1 – 3 lửa.

3. Ôn cứu: 5 – 15 phút.

Tham khảo:

1. “Giáp ất” quyển thứ 7 ghi rằng: “… lạnh, sốt lạnh, vai cánh tay khủy tay đau, cứng gáy không xoay trở được, mình sốt đầy tức buồn bực, sợ lạnh, mắt đỏ loét, mắt sinh màng che, đau đột ngột, chảy máu cam, chảy mũi nước, điếc, đau nặng cánh tay khuỷu tay vảy ngứa, đau trong ngực xuống cánh tay, chảy nước mắt sống, cứng cổ gáy, mình lạnh, cứng gáy, dùng Hậu khê làm chủ”.

2. “Đại thành” quyển thứ 6 ghi rằng: “Hậu khê chủ về sốt rét, mắt đỏ sinh ế, chảy máu cam, điếc, đầy tức ngực, cứng cổ gáy, tâm thần phân liệt, co rút cánh tay-khuỷu tay, vảy lở”.

3. “Giáp ất” quyển thứ 8 ghi rằng: “Sốt lạnh sưng hàm cổ, dùng Hậu khê làm chủ”.

4. “Giáp ất” quyển thứ 11 ghi rằng: “Phát cuồng rồi gây ra điên bị lui bị tới nhiều lần, dùng Hậu khê làm chủ”.

5.Thắng ngọc ca” ghi rằng: “Dùng Hậu khê, Cưu vĩ, Thần môn trị các loại động kinh rất hay” (Hậu khê, Cưu vĩ, cập Thần môn, trị liệu ngũ khốn lập tiện thuyên).

6. Căn cứ theo “Linh khu – Bản du” ghi rằng, huyệt này là “Du” huyệt của Thủ Thái-dương kinh, Hậu khê lại là nơi bát mạch giao hội thông với Đốc mạch.

7.Tiệp pháp” ghi rằng: “Hậu khê chữa tay chân co quắp, co duỗi khó khăn, tay chân đều run không thể bước đi cầm nắm, cổ gáy đau không thể quay đầu, gò má sưng đỏ, hầu họng sưng tắc uống nước không xuống, hai kinh Tâm phế nhiệt bệnh, đau hai bên hạch cổ, bệnh nhiệt của Phế và Tam-tiêu, sưng một bên hạch cổ, đau hai hàm dưới, đau khớp hàm không mở được, điếc tai, đầy hơi, đau nhức trong tai…”.

8. Theo kinh nghiệm của Soulié de Morant, bổ huyệt này trong trường hợp vì bị tự kỷ ám thị, bị thọ độc, nên người bệnh hay buồn bả, sợ sệt, trí não mê mờ.

9. Lý giải đặc điểm chủ trị của huyệt Hậu khê? Huyệt Hậu khê thường dùng để trị đau cứng gáy, vì kinh Thủ Thái-dương Tiểu trường và đầu gáy có quan hệ trực tiếp. Hậu khê thuộc Du huyệt của Tiểu-trường kinh, lại là một trong bát mạch giao hội huyệt thông với Đốc mạch, Đốc mạch tuần hành ở đầu gáy, lưng-thắt lưng. Người đời nay đem công dụng của Hậu khê khái quát thành một câu “Đầu cảnh Hậu khê thủ“. Huyệt Hậu khê có khi còn dùng vào trong chứng đau lưng-thắt lưng, đây cũng là duyên cớ vì Hậu khê thông với Đốc mạch. Hậu khê lại còn có thể trị chứng ra mồ hôi trộm, “Bách chứng phú” ghi “Hậu khê trị ra nhiều mồ hôi trộm”. Tâm chủ huyết, mồ hôi cùng huyết cùng nguồn (đồng nguyên), mồ hôi là dịch của Tâm. Tiểu trường và Tâm tương quan biểu lý, kinh mạch, kinh cân, lạc mạch của nó đều thông ở Tâm, cho nên châm huyệt Hậu khê có thể dưỡng Tâm huyết, điều Tâm khí, cố Tâm âm, âm dương của Tâm bình hoành thì đạo hãn tự cầm vậy. Ngoài ra, kinh Tiểu trường tuần hành họng đến khóe mắt, vào trong tai, nên Hậu khê lại có thể trị các chứng họng-thanh quản sưng đau, bệnh mắt và ù điếc.

Xem thêm

Vị trí

Tra cứu huyệt

Đặc biệt

Chủ trị

Xem thêm

Bài 7: Bổ Trung Ích Khí

Suy nhược cơ thể, tạp bệnh lâu năm và ứng dụng bài Bổ Trung Ích Khí (BTIK) Có nhiều người luôn cảm giác mệt mỏi...

Bài 5: Thuốc Lý Khí và Giáng Khí

Đường ruột dạ dày người bị bệnh tiêu hóa, thì niêm mạc cũng giống MIẾNG VẢI bị chôn trong đất bẩn lâu ngày kéo...

Bài 6: Quy Tỳ Thang

(Phương thuốc nổi tiếng trị chán ăn mất ngủ! Cũng như các bệnh lý về tim như loạn nhịp tim, hở van tim, suy...

Bài 4: Nhóm Thuốc Bổ Trị Bệnh Tiêu Hóa

Hệ tiêu hóa trong Đông y gọi là Tỳ Vị, thuộc hành Thổ. Trong đó Vị thổ thuộc quẻ Cấn, là núi, đất nhô...

Bài 3: Bình Vị Tán

(Phương thuốc điển hình trị dạ dày do ăn uống đạm thịt, rượu bia) Thương truật 12g Trần bì 4 - 12g Hậu phác 4 - 12g Cam...
error: Content is protected !!