spot_img

ĐẦU DUY

Huyệt vùng

Đường kinh

Lượt xem

Mô tả huyệt

S 8 Tóuwéi (Tréou Óe)

Xuất xứ: “Giáp ất“.

Tên gọi: – “Đầu” có nghĩa là đầu, nơi cao nhất của cơ thể.

– “Duy” có nghĩa là góc của một cái gì đó.

Huyệt nằm ở góc của trán, góc hai bên đầu nên gọi là Đầu duy (Góc đầu).

Tên Hán Việt khác: Tảng đại.

Huyệt thứ 8 thuộc Vị kinh.

Đặt biệt: Hội của Túc Dương-minh, Thiếu-dương.

Mô tả huyệt:

1. Vị trí xưa: Nơi góc trán, phía trong chân tóc, ở huyệt Thần đình đo ngang ra 4 thốn 5 phân, ngoài huyệt Bản thần 1,5 thốn (Giáp ất, Đồng nhân, Phát huy, Đại thành).

2. Vị trí nay: Khi điểm huyệt ngồi ngay thẳng, từ trước tai lên mí tóc làm một đường ngay trán đúng hai mí tóc. Huyệt trên đường khớp đỉnh-trán. Từ Thần đình đo ra 4,5 thốn.

3. Giải phẫu, Thần kinh: Dưới huyệt là cơ Thái-dương dính vào gân sọ, dưới gân sọ là xương sọ. Thần kinh vận động cơ là nhánh dây thần kinh sọ não số V. Da vùng huyệt chi phối bởi tiết đoạn thần kinh V1.

Hiệu năng của huyệt: Khu phong tiết hỏa, chỉ thống, minh mục.

Tác dụng trị bệnh:

– Tại chỗ, theo kinh: Đau thần kinh trước trán, thiên đầu thống, rung giật mí mắt.

Lâm sàng:

1. Kinh nghiệm tiền nhân: Phối Tinh minh, Đầu Lâm-khấp, Phong trì trị ra gió chảy nước mắt (Đại thành). Phối Đại lăng trị đau đầu như búa bổ (Tư sinh). Phối Toản trúc trị đau đầu nhức mắt (Đại thành). Phối Lâm khấp trị chảy nước mắt sống (Bách chứng).

2. Kinh nghiệm hiện nay: Phối Bách hội (xuất huyết) trị nhức đầu. Phối Liệt khuyết trị đau nửa đầu. Phối Thiên trụ, Toản trúc trị hoa mắt váng đầu. Phối Ế phong, Đồng-tử liêu trị ra gió chảy nước mắt. Phối Bách hội, Thái-dương, Hợp cốc trị nhức đầu. Phối Hợp cốc thấu Hậu khê, Thái xung thấu Dũng tuyền trị tâm thần phân liệt. Phối Dương bạch, Ế phong, Địa thương, Nghênh hương, Hạ quan, Hợp cốc, Ty trúc thông trị liệt thần kinh mặt.

Phương pháp châm cứu:

1. Châm: Xiên, từ trước ra sau, mé theo da đầu, sâu 0,8 – 1,5 thốn có cảm giác căng đau lan ra chung quanh.

Tham khảo:

1. “Giáp ất” quyển thứ 8 ghi rằng: “Nhức đầu như búa bổ khi sốt khi lạnh, mắt đau như muốn lồi ra ngoài, suyễn đầy tức, nôn mửa, chảy mồ hôi, khó nói, dùng Đầu duy làm chủ”.

2. “Đại thànhquyển thứ 6 ghi rằng: “Đầu duy chủ trị về đau đầu như phá, đau mắt như muốn lòi ra ngoài, chảy nước mắt sống, liệt nửa người, thị lực giảm”.

3. “Ngọc long ca” ghi rằng: “Đau nhức giữa hai lông mày châm dưới da huyệt Toản trúc, nếu hoa mắt châm thêm Đầu duy thì đở ngay” (Mi gian đông thống khổ nan dương, Toản trúc duyến bì thích bất phương, nhược thị nhãn hôn giai khả trị, cánh châm Đầu duy tức an khang).

4. Căn cứ theo “Tố vấn – Khí phủ luận thiên“, Vương Băng ghi huyệt này là hội huyệt của Túc Thái-dương, Dương-minh. Lại căn cứ theo “Giáp ất” huyệt này là hội của Túc Thiếu-dương, Dương duy.

5. Sách “Giáp ất” ghi rằng, huyệt Đầu duy cấm cứu (“cấm bất khả cứu”), trên lâm sàng, huyệt này thường không cứu.

6. Đầu duy là một trong những huyệt chính để trị đau chính giữa đầu hoặc một bên đầu. Đối với chứng liệt mặt gây ra không có nếp nhăn ở trán, mí mắt yếu, châm vào có hiệu quả tốt.

Xem thêm

Vị trí

Tra cứu huyệt

Đặc biệt

Chủ trị

Xem thêm

Bài 6: Quy Tỳ Thang

(Phương thuốc nổi tiếng trị chán ăn mất ngủ! Cũng như các bệnh lý về tim như loạn nhịp tim, hở van tim, suy...

Bài 7: Bổ Trung Ích Khí

Suy nhược cơ thể, tạp bệnh lâu năm và ứng dụng bài Bổ Trung Ích Khí (BTIK) Có nhiều người luôn cảm giác mệt mỏi...

Bài 5: Thuốc Lý Khí và Giáng Khí

Đường ruột dạ dày người bị bệnh tiêu hóa, thì niêm mạc cũng giống MIẾNG VẢI bị chôn trong đất bẩn lâu ngày kéo...

Bài 4: Nhóm Thuốc Bổ Trị Bệnh Tiêu Hóa

Hệ tiêu hóa trong Đông y gọi là Tỳ Vị, thuộc hành Thổ. Trong đó Vị thổ thuộc quẻ Cấn, là núi, đất nhô...

Bài 3: Bình Vị Tán

(Phương thuốc điển hình trị dạ dày do ăn uống đạm thịt, rượu bia) Thương truật 12g Trần bì 4 - 12g Hậu phác 4 - 12g Cam...
error: Content is protected !!