spot_img

CHIẾU HẢI

Huyệt vùng

Đường kinh

Lượt xem

Mô tả huyệt

K 6 Zhào hai (Chao Rae)

Xuất xứ: “Giáp ất“.

Tên gọi: – “Chiếu” có nghĩa là ánh nắng mặt trời hay sự sáng rực rỡ.

– “Hải” có nghĩa là biển, ở đây nói đến một lỗ hõm lớn.

Nếu một người ngồi xếp hai bàn chân khoanh lại với nhau cùng trên một mặt phẳng, một chỗ hõm lớn xuất hiện ở dưới mắt cá chân trong. Đồng thời huyệt này cũng có tác dụng trong việc chữa trị sự rối loạn mắt. Do đó có tên là Chiếu hải.

Theo “Khổng huyệt mệnh danh đích thiển thuyết” ghi rằng: “Chiếu hải, Chiếu có nghĩa là ánh sáng đi tới, huyệt này chữa bệnh mắt. Hải là nơi hội tụ của nhiều dòng suối nhỏ, cho rằng huyệt chữa bệnh rộng rãi về mắt như biển”.

Tên Hán Việt khác: Âm kiểu, Âm kiều.

Huyệt thứ 6 thuộc Thận kinh.

Đặt biệt: Nơi Âm kiều mạch sở sinh. Một trong Bát hội huyệt (Giao hội huyệt của Túc Thiếu-âm Thận với Âm-kiều mạch).

Mô tả huyệt:

1. Vị trí xưa: Dưới mắt cá chân trong 1 thốn (Giáp ất, Loại kinh).

2. Vị trí nay: Khi điểm huyệt bảo bệnh nhân gấp hoặc duỗi lật bàn chân vào trong để xác định gân cơ thẳng chân sau và cơ gấp dài các ngón chân, ở thẳng dưới mắt cá trong chân 1 thốn. Huyệt nằm ở chỗ hõm đo từ mỏm cao nhất của xương mắt cá chân trong xuống 1 thốn.

3. Giải phẫu, Thần kinh: Dưới huyệt là khe hở gân cơ cẳng chân sau và gân cơ gấp dài các ngón chân; sau mỏm chân đế. Gót của xương gót – Thần kinh vận động cơ là các nhánh của dây thần kinh chày sau. Da vùng huyệt chi phối bởi tiết đoạn thần kinh S1.

Hiệu năng của huyệt: Thông kinh hòa vinh, tiết hỏa sơ khí, thanh thần chí, lợi yết hầu, thanh nhiệt, định thần.

Tác dụng trị bệnh:

1. Tại chỗ: Viêm khớp mắt cá trong.

2. Theo kinh: Viêm họng, sa tử cung, khô họng.

3. Toàn thân: Suy nhược thần kinh, ý bệnh, động kinh, kinh nguyệt không đều, táo bón, ngứa sinh dục ngoài. Âm hư hỏa vượng.

Lâm sàng:

1. Kinh nghiệm tiền nhân: Phối Ngoại quan trị thai không xuống (Tiêu u). Phối Thái bạch, Chương môn trị bí ỉa (Đại thành). Phối Thân mạch trị bệnh ở dưới mắt cá chân (Đại thành). Phối Cưu vĩ, Tâm du trị động kinh (Đại thành). Phối Thủy tuyền, Khúc tuyền trị sa sinh dục (Tư sinh). Phối Chi cấu trị bón. Phối Nội quan trị mềm khối cục trong bụng (Ngọc long). Phối Đại đôn trị thương hàn (Bách chứng). Phối Bách hội, Thái xung, Âm giao trị đau yết hầu. Phối Âm giao, Khúc tuyền, Quan nguyên, Khí hải (tất cả đều tả) trị được 7 chứng sán (Tịch hoằng). Phối Nhị kiều, Nhị lăng trị cước khí. Phối Tam lý trị cước khí đồng thời trị bệnh ở lưng (Linh quang). Phối Nội quan hạ được thai (Y học nhập môn).

2. Kinh nghiệm hiện nay: Phối Cự khuyết, Nội quan, Phong long trị động kinh. Phối Hợp cốc, Liệt khuyết trị sưng đau họng-thanh quản. Phối Trung cực, Tam-âm giao trị kinh nguyệt không đều. Phối Củ-ngoại phiên, Tam-âm giao trị chân lật ra ngoài do liệt. Phối Thân mạch trị chi dưới đi khó khăn.

Phương pháp châm cứu:

1. Châm: Thẳng, sâu 0,5 – 1 thốn. Tại chỗ có cảm giác tê như điện giật xuống bàn chân hoặc bắp chân.

2. Cứu: 3 lửa.

3. Ôn cứu: 5 – 10 phút.

Tham khảo:

1. “Linh khu – Nhiệt bệnh” ghi rằng: “Bí tiểu, nên thủ huyệt Âm kiều và huyệt nằm ở chòm lông tam mao, xuất huyết lạc”.

2. “Giáp ất” quyển thứ 7 ghi rằng: “Đau mắt dẫn tới khóe, đau ở bụng dưới, gù lưng co rút, hoa mắt chóng mặt thích nằm, dùng Chiếu hải làm chủ”.

3. “Giáp ất” quyển thứ 9 ghi rằng: “Thoát vị, đau bụng dưới, chọn huyệt Chiếu hải làm chủ, bệnh bên trái chọn huyệt bên phải và ngược lại”.

4. “Giáp ất” quyển thứ 10 ghi rằng: “Liệt nửa người không đi được, mất cảm giác, nhìn như thấy sao, tiểu vàng, bụng dưới nóng, họng khô, chọn Chiếu hải làm chủ”.

5. “Giáp ất” quyển thứ 12 ghi rằng: “Đàn bà không kinh nguyệt, chọn Chiếu hải làm chủ”.

6. “Thiên kim” quyển thứ 4 ghi rằng: “Đàn bà rong kinh khí hư, tứ chi đau nhức, cứu Lậu âm 30 lửa, trị kinh nguyệt không ngừng, cứu trên mạch nơi giao giới ở da đỏ và trắng dưới mắt cá trong, tùy theo tuổi để cứu số lửa”.

7. “Tư sinh” ghi rằng: “Chiếu hải, Thủy tuyền, Khúc cốt, trị phụ nữ sa sinh dục”.

8. “Đại thành” quyển thứ 6 ghi rằng: “Chiếu hải chủ trị họng khô, tâm buồn không vui, tay chân mỏi rã, sốt rét lâu ngày, thoát vị, nôn mửa thích nằm, mất cảm giác, nhìn thấy sao, đau bụng dưới phụ nữ đảo kinh, tay chân nứt lở do lạnh, cơ quan sinh dục cương lên hoặc ngứa, đau bụng dưới, đái rắt, sa sinh dục, kinh nguyệt không đều”.

9. “Đại thành” quyển thứ 9 ghi rằng: “Động kinh rên như ngựa kêu, dùng Chiếu hải, Cưu vĩ, Tâm du”.

10. “Tiêu u phú” ghi rằng: “Chiếu hải trị bế tắc trong họng” (Thủ Chiếu hải trị hầu trung chi bế tắc).

11. Theo “Tố vấn – Khí huyệt luận thiên” Vương Băng chú, ghi rằng huyệt này còn gọi là Âm kiều.

12. Chiếu hải là một trong Bát mạch giao hội huyệt.

13. Chiếu hải có công hiệu thanh nhiệt lợi thấp, tư bổ can thận, đối với các bệnh tiết niệu, sinh dục, mắt, tâm thần và sưng đau họng-thanh quản có tác dụng tương đối tốt.

14. Theo kinh nghiệm của Soulié de Morant, bổ huyệt Chiếu hải để trị những chứng bệnh sau khi được một tin buồn, bị một điều trái ý hay là bị ai làm mất lòng, sỉ nhục thấy có cảm giác vô cùng khó chịu. Huyệt này có thể trị được chứng thần kinh không yên sinh ra chứng mất ngủ, lừ đừ nhác nhớm, thì dùng nó rất hiệu quả.

Xem thêm

Vị trí

Tra cứu huyệt

Đặc biệt

Chủ trị

Xem thêm

Bài 5: Thuốc Lý Khí và Giáng Khí

Đường ruột dạ dày người bị bệnh tiêu hóa, thì niêm mạc cũng giống MIẾNG VẢI bị chôn trong đất bẩn lâu ngày kéo...

Bài 7: Bổ Trung Ích Khí

Suy nhược cơ thể, tạp bệnh lâu năm và ứng dụng bài Bổ Trung Ích Khí (BTIK) Có nhiều người luôn cảm giác mệt mỏi...

Bài 6: Quy Tỳ Thang

(Phương thuốc nổi tiếng trị chán ăn mất ngủ! Cũng như các bệnh lý về tim như loạn nhịp tim, hở van tim, suy...

Bài 4: Nhóm Thuốc Bổ Trị Bệnh Tiêu Hóa

Hệ tiêu hóa trong Đông y gọi là Tỳ Vị, thuộc hành Thổ. Trong đó Vị thổ thuộc quẻ Cấn, là núi, đất nhô...

Bài 3: Bình Vị Tán

(Phương thuốc điển hình trị dạ dày do ăn uống đạm thịt, rượu bia) Thương truật 12g Trần bì 4 - 12g Hậu phác 4 - 12g Cam...
error: Content is protected !!