spot_img

ẨN BẠCH

Huyệt vùng

Đường kinh

Lượt xem

Mô tả huyệt

SP 1 Yinbái (Yin Po)

Xuất xứ: “Linh khu – Bản du“.

Tên gọi: – “Ẩn” có nghĩa là che dấu, một nơi kín.

– “Bạch” có nghĩa là trắng.

Huyệt ở nơi chỗ gặp nhau của da đỏ và trắng, phần trắng được ở dưới bàn chân. Do đó mà có tên là Ẩn bạch (trắng bị che dấu).

Có người cho rằng, “Ẩn” chỉ về cất giấu (ẩn tàng) và nhỏ bé. “Bạch” chỉ về màu sắc của kim khí. Ẩn bạch ý nói là Thổ sinh được Kim. Kim khí ẩn phục, kinh này thừa Kim của Lệ đoài, từ dương của Túc Dương-minh truyền âm giao của Túc Thái-âm. Kim về màu sắc là trắng, cứng rắn là dương, huyệt này ở dưới kinh âm, ví dụ như sự ẩn núp của con rồng chìm xuống đáy biển.

Tên Hán Việt khác: Quỷ luật, Quỷ lủy, Quỷ nhãn.

Huyệt thứ 1 thuộc Tỳ kinh.

Đặt biệt:Tỉnh” huyệt, thuộc “Mộc“.

Mô tả huyệt:

1. Vị trí xưa: Bờ trong ngón chân cái, cách góc móng chân bằng lá hẹ (Giáp ất, Phát huy, Đại thành, Đồng nhân).

2. Vị trí nay: Huyệt ở chỗ góc móng chân phía ngoài ngón chân cái, cách móng chân 1 phân là đúng huyệt. Huyệt ở trên đường tiếp giáp vơi da gan chân-da mu chân.

3. Giải phẫu, Thần kinh: Dưới huyệt là xương đốt thứ hai của ngón chân cái. Da vùng huyệt chi phối bởi tiết đoạn thần kinh L5.

Hiệu năng của huyệt: Điều huyết, thống huyết, ích tỳ, phò tỳ, ôn tỳ, thanh tâm định thần, ôn dương hồi nghịch.

Tác dụng trị bệnh:

  1. Tại chỗ: Lạnh chân, sưng ngón chân cái.

2. Theo kinh: Sình bụng, băng lậu.

3. Toàn thân: Liệt do di chứng xuất huyết não, chứng không thèm ăn, nôn, ỉa chảy, động kinh, điên cuồng, phụ nữ có kinh lai rai không dứt.

Lâm sàng:

1. Kinh nghiệm tiền nhân: Phối Tam lý trị hạ huyết (Đại thành). Phối Thiên phủ, Âm Lăng-tuyền trị không nằm được (Tư sinh). Phối Ủy trung trị xuất huyết mũi không cầm (Tư sinh). Phối Lệ đoài trị ngủ hay mộng mị (Bách chứng). Phối Bách hội trị thi quyết (Nhập môn).

2. Kinh nghiệm hiện nay: Phối Khí hải, Huyết hải, Tam-âm giao trị kinh nguyệt quá nhiều. Phối Huyết hải, Thần môn trị phụ nữ ra huyết không cầm. Phối Thương khâu trị co giật mãn tính. Phối Tỳ du, Vị du (chích nặn máu) trị vàng da. Phối Tam lý, Thân mạch trị ỉa ra máu. Phối Thái khê, Đại lăng, Thần môn có tác dụng cầm máu. Phối Tỳ du, Vị du, Túc Tam-lý, Thiên khu trị bụng trướng.

Phương pháp châm cứu:

1. Châm: Châm xiên, hướng lên trên, sâu 0,1 – 0,2 thốn, hoặc dùng kim tam lăng chích nặn ra tí máu, có cảm giác đau nhức tại chỗ.

2. Cứu: 3 – 7 lửa.

3. Ôn cứu: 5 – 10 phút.

Tham khảo:

1. “Linh khu – Nhiệt bệnh” ghi rằng: “Khí đầy tức trong ngực, suyễn, chọn bờ trong ngón chân cái, cách móng ngón chân bằng lá hẹ thuộc kinh Túc Thái-âm. Khi hàn thì lưu kim lâu, khi nhiệt thì châm nhanh, khi nào khí đi xuống thì mới thôi”.

2. “Giáp ất” quyển thứ 7 ghi rằng: “Khí suyễn, bệnh nhiệt chảy máu cam không cầm, nóng nảy trong ngực hay buồn, bụng trướng thở ngược, nhiệt khí, cẳng chân trúng hàn, không nằm được, khí đầy trong ngực, trúng nhiệt, ỉa chảy dữ dội, ngửa người nằm thở, dưới chân lạnh, tức trong ngực, nôn mửa, không muốn ăn uống, dùng Ẩn bạch làm chủ”.

3. “Giáp ất” quyển thứ 6 ghi rằng: “Ẩn bạch chủ về bụng trướng, suyễn ngột không nằm yên được, nôn mửa ăn không xuống, trong ngực nóng, ỉa chảy dữ tợn, chảy máu cam, lạnh tay lạnh chân bất tỉnh nhân sự, chân lạnh không ấm, phụ nữ kinh nguyệt nhiều, trẻ con chạm vía, kinh phong mãn tính”.

4. “Bách chứng” ghi rằng: “Nằm mộng ma quỷ không yên, dùng Lệ đoài cùng với Ẩn bạch” (Mộng ma bất định, Lệ đoài tương giai vu Ẩn bạch).

5. “Tạp bệnh huyệt pháp ca” ghi rằng: “Lạnh tay lạnh chân bất tỉnh nhân sự châm Bách hội, Ẩn bạch” (Thi quyết Bách hội nhất huyệt mỹ, cánh châm Ẩn bạch hiệu chiêu chiêu).

6. Theo “Linh khu – Bản du” ghi rằng, huyệt này là “Tỉnh” huyệt của Túc Thái-âm kinh.

7. Ẩn bạch có công hiệu ích khí kiện Tỳ, thống huyết điều kinh. Đối với huyết không qui về kinh, kinh nguyệt quá kỳ mà không dứt, quá lắm thì rong kinh, thường dùng huyệt Ẩn bạch làm chủ.

8. Huyệt này trong “Thiên kim” gọi là “Quỷ lủy“.

9. “Phối huyệt khái luận giảng nghĩa” Hai huyệt Ẩn bạch thường dùng là vì Tỳ sở dĩ chủ được sự vận hóa toàn nhờ dương khí triền chuyển. Nếu Tỳ dương không chuyển vận được ắt sinh đau bụng đi tả, mệt mỏi ngắn hơi, và các chứng rong kinh đới hạ. Lý Đông-viên lập ra các phương bổ trung, điều trung và thăng dương chính là căn cứ vào lẽ đó mà ở đây dùng hai huyệt Ẩn bạch cũng vậy. Vì Ẩn bạch là gốc của Thái-âm, bổ ở đó lợi ích cho Tỳ khí rất nhiều; Đồng thời thăng đề phần dương bị hạ hãm cùng ôn tán cái hãm khí bị trầm trệ đã lâu ngày khác nào như ông lương tướng của môn nội thương hư lao; Sách nói phò trợ trung ương tức có thể làm cho cả “bốn duy” được vũng vàng là như vậy.

Xem thêm

Vị trí

Tra cứu huyệt

Đặc biệt

Chủ trị

Xem thêm

Bài 6: Quy Tỳ Thang

(Phương thuốc nổi tiếng trị chán ăn mất ngủ! Cũng như các bệnh lý về tim như loạn nhịp tim, hở van tim, suy...

Bài 5: Thuốc Lý Khí và Giáng Khí

Đường ruột dạ dày người bị bệnh tiêu hóa, thì niêm mạc cũng giống MIẾNG VẢI bị chôn trong đất bẩn lâu ngày kéo...

Bài 7: Bổ Trung Ích Khí

Suy nhược cơ thể, tạp bệnh lâu năm và ứng dụng bài Bổ Trung Ích Khí (BTIK) Có nhiều người luôn cảm giác mệt mỏi...

Bài 4: Nhóm Thuốc Bổ Trị Bệnh Tiêu Hóa

Hệ tiêu hóa trong Đông y gọi là Tỳ Vị, thuộc hành Thổ. Trong đó Vị thổ thuộc quẻ Cấn, là núi, đất nhô...

Bài 3: Bình Vị Tán

(Phương thuốc điển hình trị dạ dày do ăn uống đạm thịt, rượu bia) Thương truật 12g Trần bì 4 - 12g Hậu phác 4 - 12g Cam...
error: Content is protected !!