Kinh Nghiệm Điều Trị Táo Bón Của Quốc Y Đại Sư Nhan Chính Hoa (Phần 1)

Thầy Nhan Chính Hoa là Quốc y đại sư kỳ đầu tiên, thầy là giáo sư, chủ nhiệm của Đại học Trung Y Dược Bắc Kinh, đồng thời là người chỉ đạo công tác Kế thừa kinh nghiệm học thuật của các lão Trung y dược toàn quốc. Từ năm 1940, thầy Nhan đã bắt đầu thực chiến Đông y trên lâm sàng, kinh nghiệm lâm sàng vô cùng phong phú, đặc biệt có sở trường điều trị các bệnh nội khoa phức tạp. Kinh nghiệm điều trị táo bón của thầy được tóm tắt như sau để chia sẻ với các vị đồng nghiệp.

Nội dung gồm 4 phần:

• Tổng quan về táo bón

• Tư duy biện chứng và điều trị

• Tư duy điều trị táo bón của giáo sư Nhan Chính Hoa

• Bệnh án

Vì bài viết khá dài, mình xin phép được chia sẻ trước phần 1 và 2. Phần còn lại sẽ được đăng trong bài viết lần sau。

I. TỔNG QUAN VỀ TÁO BÓN:

Táo bón là một loại bệnh có đặc trưng trên lâm sàng là khó đại tiện và thời gian đại tiện hoặc khoảng cách giữa những lần đại tiện kéo dài, do chức năng truyền dẫn bất thường của Đại tràng. Táo bón đã là một căn bệnh độc lập, cũng là triệu chứng thường xuất hiện trong quá trình mắc các bệnh cấp và mãn tính khác nhau. Đông y có kinh nghiệm điều trị táo bón rất phong phú.

Vào thời kỳ trước Tần, trong “Hoàng Đế Nội Kinh” đã thể hiện mối liên quan giữa táo bón và Tỳ Vị thụ hàn, trường đạo có nhiệt, bệnh ở tạng Thận. Ví dụ, “Tố Vấn- Quyết luận” nói: “Thái Âm chi quyết, tắc phúc mãn trướng, hậu bất lợi.(1)” “Tố vấn- Cử thống luận” nói: “Nhiệt khí lưu vu tiểu tràng, tràng trung đau, đản nhiệt tiêu khát, tắc kiên can bất đắc xuất, cố thống nhi bế bất thông hĩ (2)”. Trương Trọng Cảnh có hiểu biết tương đối toàn diện về táo bón, và đã đưa ra các cơ chế bệnh sinh khác nhau của hàn, nhiệt, hư, thực, cũng đưa ra các phương thuốc để điều trị các kiểu táo bón khác nhau: Thừa khí thang, Ma tử nhân hoàn, Hậu phác tam vật thang…, vì thế hệ bác sĩ đời sau mà thiết lập các nguyên tắc cơ bản trong điều trị táo bón.

Thời kì Kim Nguyên, Lý Đông Viên nhấn mạnh mối quan hệ giữa táo bón và chế độ ăn uống, làm việc, nghỉ ngơi, đồng thời chỉ ra rằng không nên sử dụng thuốc nhuận tràng một cách bừa bãi để điều trị táo bón. Ví dụ, trong cuốn “Lan thất bí tàng- Đại tiện kết táo môn” nói: “Nhược cơ ăn bão thất tiết, lao dịch quá độ, tổn thương tỳ vị, cập thực tân nhiệt hậu vị chi vật, nhi trợ hỏa tà, phục vu huyết trung, háo tán chân âm, tân dịch khuy thiểu, cố đại tiện táo kết (3)”, “Đại để trị bệnh, bất khả nhất khái dụng ba đậu, khiên ngưu chi loại hạ chi, tổn kỳ tân dịch, táo kết dũ thậm, phục hạ phục kết, cực tắc dĩ chí dẫn đạo vu hạ nhi bất thông, toại thành bất cứu (4)”. “Y học tâm ngộ- Đại tiện bất thông” của nhà Thanh chia táo bón thành 4 loại: “thực bí”, “hư bí”, “nhiệt bí” và “lãnh bí”, đồng thời liệt kê triệu chứng của từng loại tương ứng, phương pháp điều trị và phương dược cung cấp tài liệu tham khảo cho đời sau để điều trị táo bón.

Giáo sư Nhan Chính Hoa cho rằng nguyên nhân bên trong của chứng táo bón bao gồm ẩm thực thất tiết, tình chí thất điều, tuổi già cơ thể suy nhược, v.v., trong khi nguyên nhân bên ngoài là cảm phải ngoại tà gây ra. Từ góc độ nguyên nhân và bệnh cơ, người trường vị có táo nhiệt ứ kết, thuộc nhiệt bí; người khí cơ tắc trệ thuộc khí bí; người khí huyết hư nhược thuộc hư bí; người hàn tà tích trệ thuộc lãnh bí. Trong bốn kiểu người trên còn lấy hư thực làm cương lĩnh, hàn bí, khí bí, lãnh bí thuộc thực, âm dương khí huyết bất túc thuộc hư.

II. TƯ DUY BIỆN CHỨNG VÀ ĐIỀU TRỊ:

1. Nhiệt bí:

Triệu chứng chủ yếu là đại tiện táo kết, bụng trướng và đau, miệng khát có mùi hôi, mặt đỏ tâm phiền, tiểu tiện ngắn đỏ, chất lưỡi đỏ rêu vàng khô, mạch hoạt sác. Điều trị lấy tả nhiệt đạo trệ, nhuận tràng thông tiện, thường dùng phương Ma tử nhân hoàn gia giảm. Thuốc thường dùng là Đại hoàng, Chỉ thực, Hậu phác, Ma tử nhân, Quyết minh tử, Toàn qua lâu, Sinh thủ ô…

2. Khí bí:

Các triệu chứng chính của khí bí bao gồm đại tiện phân thiên khô, muốn đại tiện nhưng không ra được, hoặc đại tiện không thoải mái, bụng sôi, trung tiện thối, bụng trướng đau, ợ hơi nhiều, ngực sườn bĩ mãn, rêu lưỡi mỏng dính, mạch huyền. Điều trị lấy lý khí đạo trệ. Phương thường dùng là Lục ma thang gia giảm. Những vị thuốc thường dùng có Mộc hương, Ô dược, Đại hoàng, Binh lang, Chỉ thực…

3. Lãnh bí:

Triệu chứng chủ yếu của lãnh bí là đại tiện phân khô, đau bụng, đầy chướng không muốn ấn vào, tay chân lạnh, nấc cụt, rêu lưỡi trắng dính, mạch huyền khẩn. Điều trị cần ôn lý tán hàn chỉ thống. Phương thường dùng là Ôn tỳ thang gia giảm. Thuốc thường dùng là Phụ tử, Đại hoàng, Đảng sâm, Can khương, Cam thảo, Đương quy, Nhục thung dung, Ô dược…

4. Khí hư bí:

Triệu chứng chính của khí hư bí là phân hơi khô và cứng, tuy có cơn buồn đi nhưng đại tiện khó khăn, đổ mồ hôi và đoản khí khi gắng sức, mệt mỏi sau khi đại tiện, sắc mặt trắng, mệt mỏi, lưỡi nhợt rêu trắng, mạch tế nhược…. Điều trị cần bổ khí nhuận tràng, phương thường dùng là Bổ trung ích khí thang. Thuốc thường dùng là Đảng sâm, Phục linh, Bạch truật, Hoàng kì, Hoả ma nhân, Trần bì, Bạch mật,…

5. Huyết hư bí:

Triệu chứng chính của huyết hư bí là đại tiện khô kết, sắc mặt không sáng, chóng mặt, hồi hộp, hay quên, môi nhợt nhạt, lưỡi nhạt rêu trắng, mạch tế. Điều trị cần dưỡng huyết nhuận tràng, phương thường dùng là Tứ vật thang hợp Nhuận tràng hoàn gia giảm. Thuốc thường dùng là Đương quy, Sinh địa, Hoả ma nhân, Đào nhân, Chỉ xác…

6. Âm hư bí:

Triệu chứng chủ yếu của âm hư bí là đại tiện khô kết, hình thể gầy, chóng mặt, ù tai, gò má đỏ, tâm phiền ít ngủ, triều nhiệt đạo hãn, thắt lưng và đầu gối đau mỏi, lưỡi đỏ ít rêu, mạch tế sác. Điều trị cần tư âm thông tiện, phương thường dùng là Ích vị thang hợp Tăng dịch thang gia giảm. Thuốc thường dùng là Huyền sâm, Mạch môn, Sinh địa, Đương quy, Thạch hộc, Sa sâm,…

7. Dương hư bí:

Triệu chứng chủ yếu của dương hư bí là phân hơi khô, khó bài tiết, nước tiểu trong dài, chân tay không ấm, bụng lạnh đau, thắt lưng và gối lạnh, lưỡi nhạt rêu trắng, mạch trầm trì. Điều trị cần ôn dương thông tiện, phương thường dùng là Ôn tỳ thang hợp Tế xuyên tiễn gia giảm. Thuốc thường dùng là Nhục thung dung, Toả dương, Ngưu tất, Đương quy, Thăng ma, Trạch tả, Chỉ xác, Can khương, Phụ tử,…

Nguồn: 中国中医药报

——–Bs Hiền Hương dịch——–

Chú thích tạm dịch:

(1) Thái âm chi quyết, bụng liền đầy chướng, hậu không lợi (đại tiện không thông).

(2) Nhiệt khí lưu lại tiểu trường, trong ruột đau, sốt cao miệng khát, liền khô cứng mà không ra ngoài được, gây đau mà bế không thông.

(3) Nếu no đói không điều tiết, làm việc quá độ, tổn thương Tỳ Vị, ăn những đồ cay nóng đậm vị, mà trợ hoả tà, ẩn náu ở trong huyết, tiêu tán chân âm, tân dịch ít thiếu, cho nên đại tiện táo kết.

(4) Điều trị nói chung, không thể đại khái dùng Ba đậu, Khiên ngưu hay các loại thuốc hạ, gây tổn hại tân dịch, táo kết càng nặng, càng hạ càng kết, cuối cùng gây ra cứ dẫn đạo xuống mà không thông, vì thế lại thành không cứu được.

Bài viết khác ―

Bài viết khác ―

error: Content is protected !!