Home Blog

HOÀN CỐT

G 12 Wàngu (Oann Kou, Iuann Kou)

Xuất xứ: “Linh khu – Bản du“.

Tên gọi: – “Hoàn cốt” có ý nghĩa là tên theo giải phẫu ngày xưa, ngày nay gọi là xương chũm.

Huyệt nằm ở dưới xương chũm nên gọi là Hoàn cốt. Ở đây được thêm vào chữ đầu gọi là Đầu Hoàn-cốt để phân biệt với Thủ Hoàn-cốt ở tay.

Theo “Kinh huyệt thích nghĩa hội giải” ghi rằng: “Phía dưới xương ngọc chảm cao mà dài ở phía sau tai gọi là Hoàn cốt. Huyệt ở sau tai 4 phân trong tóc. Huyệt nằm ở nơi này nên gọi là Hoàn cốt”.

Huyệt thứ  12  thuộc  Đởm kinh.

Đặc biệt: Giao hội của Túc Thiếu-dương, Thái-dương

Mô tả huyệt:

1. Vị trí xưa: Ở tai vào chân tóc 4 phân (Giáp ất, Đồng nhân, Phát huy, Đại thành).

2. Vị trí nay: Xác định huyệt Đầu Khiếu-âm đo xuống 7 phân, ở mi tóc sau tai đo lên 4 phân. Huyệt ở chỗ hõm sau mỏm trâm chũm phía sau tai, sát bờ sau cơ ức đòn chũm.

3. Giải phẫu, Thần kinh: Dưới huyệt là cơ ức đòn chũm, cơ gối đầu, cơ đầu dài, cơ trâm móng, cơ trâm lưỡi, cơ trâm hầu và cơ hai thân – Thần kinh vận động cơ là nhánh của dây thần kinh sọ não số XI, nhánh cổ 2, nhánh dây chẩm lớn, nhánh dây dưới chẩm, các nhánh của dây chẩm lớn, nhánh dây dưới chẩm, các nhánh của dây sọ não số XII, số IX và số VII. Da vùng huyệt chi phối bởi tiết đoạn thần kinh C2.

 

Tác dụng trị bệnh:

1. Tại chỗ: Đau đầu, cứng gáy.

2. Theo kinh: Phù mặt, đau răng, liệt mặt, viêm tuyến mang tai.

3. Toàn thân: Động kinh.

Lâm sàng:

1. Kinh nghiệm tiền nhân: Phối Thiếu hải trị đau cổ (Tư sinh). Phối Hàm yến trị đau cổ gáy (Tư sinh). Phối Thiên đảnh, Tiền cốc, trị đau cuống họng (Tư sinh). Phối Liệt khuyết trị liệt dây thần kinh số VII (Tư sinh).

2. Kinh nghiệm hiện nay: Phối Phong trì, Đại trữ trị sốt rét. Phối Phong trì trị tâm thần phân liệt động kinh té nhào. Phối Thái dương, Toản trúc, Can du trị bệnh thuộc mắt. Phối Thiên trụ, Hậu khê, Tuyệt cốt trị đau cổ gáy, vẹo cổ.

Phương pháp châm cứu:

1. Châm: Xiên, sâu 0,5 – 1 thốn.

2. Cứu: 5 lửa.

3. Ôn cứu: 5 – 15 phút.

Tham khảo:

1. “Giáp ất” quyển thứ 10 ghi rằng: “Đầu phong, đau sau tai, tâm phiền, chân đau không co được, miệng méo, đầu cổ giật co đau lan đến hàm dưới”.

2. “Giáp ất” quyển thứ 11 ghi rằng: “Sưng gáy không cúi ngửng được, sưng má lan đến tai, dùng Hoàn cốt làm chủ”.

3. “Thiên kim” ghi rằng: “Hoàn cốt chủ trị đầu mặt sưng đau, chủ về tâm thần phân liệt, động kinh té nhào, sốt rét, nổi cuồng chạy bậy”.

4. “Đồng nhân” ghi rằng: “Hoàn cốt trị nhức đầu, tâm phiền, động kinh, đầu mặt phù húp, đau răng lỗ cối, liệt nửa người, miệng méo mắt xếch, đau cổ gáy không cử động được, tiểu đỏ sẻn, sưng tắc họng sưng má”.

5. “Đại thành” quyển thứ 7 ghi rằng: “Chân yếu mang dép đi không khít chân, đau hàm dưới, sưng má, phù húp đầu mặt, đau cổ gáy, đau phong đau sau tai, tâm phiền, tiểu tiện đỏ sẻn, sưng tắc họng, sâu răng lỗ cối, miệng méo mắt xếch, tâm thần phân liệt”.

6. Theo “Giáp ất” ghi rằng: “Huyệt Hoàn cốt là nơi hội của Túc Thái-dương, Thiếu dương”.

ĐẦU KHIẾU-ÂM

G 11 Tóuqiàoyin (Tsiao Inn de tête)

Xuất xứ: “Giáp ất“.

Tên gọi: – “Khiếu” có nghĩa là cái lỗ.

– “Âm” có nghĩa là phần nằm trong tối, so với Dương bạch.

Huyệt ở sau tai, trên mặt âm của đầu. Để phân biệt với huyệt Khiếu âm ở chân nên gọi là Đầu Khiếu-âm.

Theo “Hội nguyên” ghi rằng: “Khiếu âm, đầu là nơi hội của chín kinh dương, mà sao lại sinh Khiếu âm, bởi phía sau đầu có huyết thuộc âm, huyệt đi ngang qua nên gọi là Khiếu âm“.

Tên Hán Việt khác: Khiếu âm, Chẩm cốt.

Huyệt thứ 11 thuộc Đởm kinh.

Đặt biệt: Giao hội của Túc Thái-dương, Thiếu-dương.

Mô tả huyệt:

1. Vị trí xưa: Ở trên huyệt Hoàn cốt, dưới xương chẩm, sờ tay có động ở dưới (Giáp ất, Đồng nhân, Phát huy, Đại thành).

2. Vị trí nay: Khi điểm huyệt ngồi hơi cúi đầu, xác định huyệt Dương bạch đo thẳng lên, vào bờ tóc 5 phân. Huyệt ở chỗ nối 2/3 trên và 1/3 dưới của đoạn nối huyệt Thiên xung với huyệt Hoàn cốt.

3. Giải phẫu, Thần kinh: Dưới huyệt là cơ tai sau, cơ chẩm, đường khớp xương thái dương-chẩm – Thần kinh vận động cơ là nhánh của dây thần kinh mặt và nhánh của dây thần kinh chẩm lớn. Da vùng huyệt chi phối bởi tiết đoạn thần kinh C2.

 

Tác dụng trị bệnh:

1. Tại chỗ: Đau đầu.

2. Theo kinh: Đau gáy, đau tai, điếc, đau ngực.

3. Toàn thân: Viêm họng, viêm khí quản, sưng tuyến giáp trạng.

Lâm sàng:

1. Kinh nghiệm tiền nhân: Phối Cường gian trị đau đầu như búa bổ (Tư sinh).

2. Kinh nghiệm hiện nay: Phối Ế phong, Thính cung, Thính hội trị điếc, ù tai. Phối Khiếu âm, Cường gian trị đau đầu.

Phương pháp châm cứu:

1. Châm: Xiên, sâu 0,5 – 1 thốn.

2. Cứu: 5 lửa.

3. Ôn cứu: 5 – 15 phút.

Tham khảo:

1. “Giáp ất” quyển thứ 10 ghi rằng: “Đau đầu dẫn tới gáy, dùng Khiếu âm làm chủ”.

2. “Thiên kim” ghi rằng: “Khiếu âm chủ nhọt ở ống mũi, sinh ra trĩ mũi”.

3. “Đồng nhân” ghi rằng: “Khiếu âm phát sinh lao đản, đau gáy dẫn tới đau mắt. Châm 3 phân, có thể cứu 7 lửa”.

4. “Đại thành” ghi rằng: “Khiếu âm chủ về vọp bẻ tay chân, đau mắt, đau gáy hàm dẫn tới tai lùng bùng, tai ù không nghe, gốc lưỡi chảy máu, cốt lao, ung nhọt sinh rò, tay chân phiền nhiệt, mồ hôi không ra, cứng lưỡi đau sườn, ho sưng tắc họng, trong miệng sợ đắng”.

5. Căn cứ theo “Ngoại đài” ghi rằng, huyệt Khiếu âm là nơi hội tụ của Thủ Túc Thái-dương, Thiếu-dương.

PHÙ BẠCH

G 10 Fúbái (Fao Po, Feou Pae)

Xuất xứ: “Tố vấn – Khí huyệt thiên“.

Tên gọi: – “Phù” có nghĩa là nổi lên, nói đến chiều hướng lên của kinh khí.

– “Bạch” có nghĩa là trắng.

Nói đến cả huyệt Bách hội và sự nổi lên của khí. Kinh khí xuất phát từ Thiên xung và nổi lên phía trên Bách hội ở đỉnh đầu. Do đó mà có tên Phù bạch.

Theo “Du huyệt mệnh danh hội giải” ghi rằng: “Phần biểu phần cạn gọi là Phù, Bạch là màu trắng tương ứng với Phế. Huyệt này chủ trị bệnh Phế, nên được gọi là Phù bạch”.

Huyệt thứ 10 thuộc Đởm kinh.

Đặt biệt: Giao hội của Túc Thiếu-dương, Túc Thái-dương.

Mô tả huyệt:

1. Vị trí xưa: Phía sau tai đo vào chân tóc 1 thốn (Giáp ất, Đồng nhân, Phát huy, Đại thành).

2. Vị trí nay: Xác định huyệt Thiên xung và Hoàn cốt, lấy ở tỷ lệ 1/3 trên hoặc 2/3 dưới. Huyệt ở sau huyệt Thiên xung đo xuống 1 thốn.

3. Giải phẫu, Thần kinh: Dưới huyệt là xương Thái dương. Da vùng huyệt chi phối bởi tiết đoạn thần kinh C2.

 

Tác dụng trị bệnh:

1. Tại chỗ, Theo kinh: Nhức đầu, đau răng, ù tai, lãng tai.

2. Toàn thân: Viêm khí quản.

Lâm sàng:

Kinh nghiệm hiện nay: Phối Phong trì, Thái-dương, Ngoại quan trị đau nửa đầu. Phối Hoàn cốt trị đau răng lỗ cối.

Phương pháp châm cứu:

1. Châm: Xiên, sâu 0,5 – 1 thốn.

2. Cứu: 5 lửa.

3. Ôn cứu: 5 – 15 phút.

* Chú ý: Không được cứu bỏng và nhiều.

Tham khảo:

1. “Thiên kim” ghi rằng: “Đau nhức răng không nói được, dùng Phù bạch làm chủ”.

2. “Đại thành” quyển thứ 7 ghi rằng: “Chân không đi được, điếc, ù tai, đau răng, đầy tức sườn không thở được, đau ngực, bướu cổ, sưng ung không nói được, vai cánh tay không nâng lên được, phát sốt lạnh, sưng tắc họng, ho đàm dãi, ù tai, lùng bùng tai”.

3. Theo “Giáp ất” ghi Phù bạch là nơi hội của Túc Thái-dương, Thiếu-dương.

KHÚC TÂN

G 7 Qùbìn (Kou Penn, Tsiou Ping)

Xuất xứ: “Giáp ất“.

Tên gọi: – “Khúc” có nghĩa là cong hay chỗ ngoặc.

– “Tân” có nghĩa là đường chân tóc ở thái dương.

Huyệt theo đường kinh quay hướng lên phía Suất cốc làm thành một đường cong. Do đó mà có tên là Khúc tân.

Theo “Khổng huyệt mệnh danh đích thiển thuyết” ghi rằng: “Khúc tân, vùng thái dương có Tân cốt, nơi đó được gọi là Tân, huyệt Khúc tân ở chỗ đó nên gọi tên như thế”.

Tên đọc khác: Khúc mấn

Tên Hán Việt khác: Khúc phát.

Huyệt thứ 7 thuộc Đởm kinh.

Đặt biệt: Giao hội của Túc Thiếu-dương, Thái-dương.

Mô tả huyệt:

1. Vị trí xưa: Ở trên tai phía trong tóc giữa khúc cong nơi hõm, cử động hàm có khe hở; chỗ hõm của đường chân tóc cong trên tai (Đồng nhân, Phát huy, Đại thành).

2. Vị trí nay: Phía sau, bên đầu trên tai, trên chân tóc, giữa huyệt Giác tôn và Hòa liêu. Sát động mạch Thái dương nông.

3. Giải phẫu, Thần kinh: Dưới huyệt là cơ tai trên, cơ Thái dương. Dưới nữa là xương Thái dương – Thần kinh vận động cơ là nhánh của dây thần kinh mặt. Nhánh của dây thần kinh sọ não thứ V. Da vùng huyệt chi phối bởi tiết đoạn thần kinh V3.

Tác dụng trị bệnh:

Tại chỗ, Theo kinh: Thiên đầu thống, đau thần kinh 3 nhánh, co giật cơ mặt.

Lâm sàng:

Kinh nghiệm hiện nay: Phối Ế phong, Thính cung, trị ù tai, điếc. Phối Can du, Quang minh trị hoa mắt không rõ. Phối Xung dương trị đau răng lỗ cối.

Phương pháp châm cứu:

1. Châm: Dưới da sâu 1 – 1,5 thốn.

2. Ôn cứu: 5 – 10 phút.

Tham khảo:

1. “Đồng nhân” ghi rằng: “Sưng mặt má, đau xuống hàm dưới không hả ra được, cấm khẩu đau gấp không thể nói”.

2. “Đại thành” quyển thứ 7 ghi rằng: “Khúc tân chủ trị sưng má, dẫn tới đau hàm răng không mở được, đau gấp, cấm khẩu không nói được, cổ gáy không quay được, đau hai góc đầu làm thành đau như dùi châm ở đỉnh đầu gây mờ mắt”.

3. Huyệt Khúc tân, theo “Thánh huệ” gọi là Khúc phát.

4. Theo “Giáp ất” ghi rằng, Khúc tân là nơi hội của Túc Thái-dương, Thiếu-dương.

HUYỀN LY

G 6 Xuánlí (Iuann Li, Siuann Li)

Xuất xứ: “Giáp ất“.

Tên gọi: – “Huyền” có nghĩa là treo.

– “Ly” có nghĩa là đúng hay chính xác.

Huyệt ở mặt bên của đầu và có dấu hiệu đau đầu, chóng mặt, mờ mắt. Hay nói khác hơn huyệt này dùng để phục hồi đúng chức năng bình thường của đầu và các cơ quan của đầu. Do đó mà có tên là Huyền ly.

Theo “Kinh huyệt thích nghĩa hội giải” ghi rằng: “Huyệt ở bờ dưới góc cong bờ dưới xương Thái dương, cùng với Huyền lư chỉ kém trong vài ly nên gọi là Huyền ly“.

Huyệt thứ  6  thuộc Đởm kinh.

Mô tả huyệt:

1. Vị trí xưa: Chỗ có động mạch dưới Thái dương (Giáp ất).

2. Vị trí nay: Dưới huyệt Huyền lô 5 phân, đo ra sau 1 phân. Huyệt ở chỗ nối 1/3 trên và 1/4 dưới của đoạn nối huyệt Đầu duy và Khúc tân, sát động mạch thái dương nông.

3. Giải phẫu, Thần kinh: Dưới huyệt là cơ tai trên, cơ thái dương, xương thái dương – Thần kinh vận động cơ là nhánh của dây thần kinh mặt, nhánh của dây thần kinh sọ não số V. Da vùng huyệt chi phối bởi tiết đoạn thần kinh V3.

 

Tác dụng trị bệnh:

1. Tại chỗ, Theo kinh: Đau nửa đầu, đau răng.

2. Toàn thân: Phù mặt, suy nhược thần kinh.

Lâm sàng:

Kinh nghiệm hiện nay: Phối Thủy cấu, Giáp xa, Hạ quan, Hợp cốc trị liệt mặt. Phối Ngoại quan, Phong trì, Thái dương trị đau nửa đầu. Phối Ế phong, Thính hội trị ù tai.

Phương pháp châm cứu:

1. Châm: Xiên, sâu 1 – 1,5 thốn.

2. Cứu: 5 – 7 lửa, không gây bỏng.

3. Ôn cứu: 5 – 10 phút.

Tham khảo:

1. “Giáp ất” quyển thứ 7 ghi rằng: “Nhiệt bệnh đau nửa đầu lan xuống khóe mắt, dùng Huyền ly làm chủ”.

2. “Thiên kim” ghi rằng: “Huyền ly chủ trị da mặt đỏ đau, trị động kinh, tâm thần phân liệt, động kinh kêu rên như dê kêu, đầy tức tâm phiền mồ hôi không ra. Huyền ly, Cưu vĩ, chủ trị nhiệt bệnh đau nửa đầu, gây đau khóe mắt ngoài”.

3. “Đồng nhân” ghi rằng: “Huyền ly chủ trị bệnh sốt mồ hôi không ra, đau nửa đầu, tâm phiền không muốn ăn uống, khóe mắt đỏ đau, châm vào 3 phân, có thể cứu 3 lửa”.

4. “Đại thành” quyển thứ 7 ghi rằng: “Huyền ly chủ trị da sưng đỏ, đau nửa đầu, tâm phiền không muốn ăn uống, trung tiêu khách nhiệt, nhiệt bệnh mồ hôi không ra, đỏ đau khóe mắt trong”.

5. Căn cứ theo “Giáp ất” ghi rằng, huyệt này là nơi hội của Thủ Túc Thiếu-dương, Dương minh.

HUYỀN LƯ

G 5 Xuánlú (Iuann Lo, Siuann Lou)

Xuất xứ: “Linh khu – Hàn nhiệt bệnh“.

Tên gọi: – “Huyền” có nghĩa là treo.

– “Lư” có nghĩa là sọ.

Huyệt ở ở phần cong của đường chân tóc nơi Thái-dương dưới Hàm yến, như thể được treo ở mỗi bên sọ. Do đó mà có tên là Huyền lư.

Theo “Huyệt vị mệnh danh hội giải” ghi rằng: “Huyền là treo, lư là đầu sọ. Chủ trị chứng mặt xây xẩm, co giật nên gọi là Huyền lư“.

Tên Hán Việt khác: Huyền lô, Tủy không, Mễ sĩ.

Huyệt thứ 5 thuộc Đởm kinh.

Mô tả huyệt:

1. Vị trí xưa: Chỗ góc cong trong Thái-dương (Giáp ất).

2. Vị trí nay: Huyệt Hàm yến đo xuống 6 phân, đo ra phía sau 1 phân. Huyệt là nơi Hàm yến nối với Đầu duy và Khúc tân tỉ lệ 2/4 trên hay 2/4 dưới, sát động mạch Thái dương nông.

3. Giải phẫu, Thần kinh: Dưới huyệt là cơ tai trên, cơ Thái dương, xương Thái dương – Thần kinh vận động cơ là nhánh của dây thần kinh mặt, nhánh của dây thần kinh sọ não số V. Da vùng huyệt chi phối bởi tiết đoạn thần kinh V3.

Tác dụng trị bệnh:

1. Tại chỗ, Theo kinh: Nhức đầu, đau răng.

2. Toàn thân: Suy nhược thần kinh, phù mặt.

Lâm sàng:

1. Kinh nghiệm tiền nhân: Phối Hàm yến trị thiên đầu thống (Bách chứng).

2. Kinh nghiệm hiện nay: Phối Phong trì, Ngoại quan, Thái dương trị đau nửa đầu. Phối Ty trúc không, Phong trì trị đau khóe mắt. Phối Nhân trung trị sưng mặt.

Phương pháp châm cứu:

1. Châm: Xiên, sâu 1 – 1,5 thốn.

2. Ôn cứu: 5 – 10 phút.

* Chú ý: Không được gây bỏng.

Tham khảo:

1. “Giáp ất” quyển thứ 7 ghi rằng: “Bệnh sốt nóng đau đầu mình nặng, dùng Huyền lư làm chủ”.

2. “Đồng nhân” ghi rằng: “Huyền lư trị nhiệt bệnh đầy tức tâm phiền mồ hôi không ra, đau nửa đầu dẫn lan tới khóe mắt đỏ, mình sốt đau răng, da mặt đỏ đau, châm vào 3 phân, lưu kim 3 hơi thở, có thể cứu 3 lửa”.

VỊ THƯƠNG

B 50 Wèicàng (Oé Tsrang)

Xuất xứ: “Giáp ất“.

Tên gọi: – “Vị” có nghĩa là dạ dày.

– “Thương” có nghĩa là nơi chứa hay cất giữ đồ vật.

Huyệt ở hai bên Vị du. Vị là quan kho tàng chủ về ngũ vị, đồng thời huyệt này chủ trị các loại biểu hiện bệnh của dạ dày như rối loạn dạ dày, ăn không ngon, sình bụng, nó có tác dụng mạnh Tỳ bổ Vị, nên gọi là Vị Thương (nhà kho dạ dày).

Huyệt thứ 50 thuộc Bàng-quang kinh.

Mô tả huyệt:

1. Vị trí xưa: Hai bên xương sống, dưới đốt sống lưng 12, đo ra mỗi bên 3 thốn (Giáp ất, Đồng nhân, Phát huy, Đại thành).

2. Vị trí nay: Dưới gai đốt sống lưng thứ 12 đo ra mỗi bên 3 thốn. Khi điểm huyệt nên nằm sấp.

3. Giải phẫu, Thần kinh: Dưới huyệt là cơ lưng to, cơ răng cưa bé sau-dưới, cơ chậu-sườn-thắt lưng, cân lưng-thắt lưng, cơ vuông thắt lưng. Dưới nữa là Thận – Thần kinh vận động cơ là nhánh đám rối cánh tay, nhánh dây sống lưng 12. Da vùng huyệt chi phối bởi tiết đoạn thần kinh T10.

Hiệu năng của huyệt: Hòa vị hóa thấp, lý khí sướng trung.

Tác dụng trị bệnh:

1. Tại chỗ: Đau lưng.

2. Toàn thân: Đau dạ dày, viêm dạ dày, đau bụng.

Lâm sàng:

1. Kinh nghiệm tiền nhân: Phối Ý xá, Cách quan trị ăn uống không được (Tư sinh).

2. Kinh nghiệm hiện nay: Phối Túc Tam-lý, Nội quan trị căng trướng đau vùng bụng trên.

Phương pháp châm cứu:

1. Châm: Xiên, sâu 0,5 – 0,8 thốn.

2. Cứu: 3 – 7 lửa.

3. Ôn cứu: 10 – 20 phút.

Tham khảo:

1. “Giáp ất” quyển thứ 9 ghi rằng: “Phù thủng căng trướng, ăn uống kém, nhiều hàn, dùng Vị thương làm chủ”.

2. “Tư sinh” ghi rằng: “Vị thương, Ý xá, Cách quan trị ăn uống không xuống”.

3. “Đại thành” quyển thứ 6 ghi rằng: “Vị thương chủ về bụng hư trướng, phù thủng, ăn uống không xuống, sợ lạnh, cột sống lưng đau không cúi ngửa được”.

4. “Đại thành” quyển thứ 8 ghi rằng: “Phù thủng châm Vị thương, Hợp cốc, Thạch quan, Thủy cấu, Tam lý, Phục lưu, Khúc tuyền, Tứ mãn”.

5. Quan hệ tới vị trí huyệt này, “Đồ dực”, “Kim giám” đều ghi rằng: “Từ chính giữa cột sống đo ra mỗi bên 3 thốn rưỡi”.

6. Các tác giả cận đại có người cho rằng huyệt này lấy trên gai cột sống thứ 12 đo ra mỗi bên 3 thốn.

HUYỀN KHU

GV 5 Xuánshù (Iuann Tchou, Siuann Tchrou)

Xuất xứ: “Giáp ất“.

Tên gọi: – “Huyền” có nghĩa là treo lơ lửng.

– “Khu” có nghĩa là cái bản lề, cái then cửa, nối cả hai phần trên và dưới của cột sống.

Huyệt ở bên dưới huyệt Tích trung (có nghĩa là giữa xương sống) là bản lề cho việc chuyển nước và khí của Tam-tiêu. Do đó mà có tên là Huyền khu.

Theo “Du huyệt mệnh danh hội giải” ghi rằng: “Huyền khu, phía trên chính giữa xương sống là trung khu (trung ương). Huyệt này ở phía dưới giữa xương sống (Tích trung) là then chốt (hay bản lề) đi lên xuống của Tam-tiêu”.

Tên Hán Việt khác: Huyền xu.

Huyệt thứ  5  thuộc Đốc mạch.

Mô tả huyệt:

1. Vị trí xưa: Dưới đốt sống lưng 13 (Giáp ất, Đồng nhân, Phát huy, Đại thành).

2. Vị trí nay: Ngồi ngay hơi cúi xuống đè dưới đốt xương sống thứ 13 (xương thắt lưng 1). Huyệt ở chỗ hõm dưới đầu mỏm gai đốt sống lưng 1.

3. Giải phẫu, Thần kinh: Dưới huyệt là cân ngực – thắt lưng của cơ lưng to, chỗ bám của cơ răng bé sau dưới, cơ gian gai, cơ ngang-gai, dây chằng trên gai, dây chằng gian gai, dây chằng vàng. Dưới nữa là ống sống – Thần kinh vận động cơ là các nhánh của dây thần kinh sống. Da vùng huyệt chi phối bởi tiết đoạn thần kinh L1.

Tác dụng trị bệnh:

1. Tại chỗ: Đau cứng vùng xương thắt lưng.

2. Toàn thân: Đau bụng, lỵ, ỉa chảy, sa trực trường.

Lâm sàng:

Kinh nghiệm hiện nay: Phối Thiên khu, Trung quản trị trướng bụng do thực tích. Phối Thiên khu, Túc Tam-lý trị ỉa chảy, kiết lỵ. Phối Thận du, Ủy trung trị đau thắt lưng.

Phương pháp châm cứu:

1. Châm: Xiên, sâu 0,5 – 1 thốn.

2. Cứu: 3 – 7 lửa.

3. Ôn cứu: 5 – 10 phút.

Tham khảo:

1. “Giáp ất” quyển thứ 8 ghi rằng: “Tích đồ ăn trong bụng cuộn lên xuống, dùng Huyền khu làm chủ”.

2. “Đồng nhân” ghi rằng: “Huyền khu trị tích thực khí chạy lên chạy xuống, cơm nước không tiêu hóa, kiết lỵ, cứng cột sống thắt lưng không cúi ngửa được, lưu tích ở trong bụng, châm sâu 3 phân, có thể cứu 3 lửa”.

TÍCH TRUNG

GV 6 Jizhòng (Tsi Tchong)

Xuất xứ: “Tố vấn – Không luận thiên“.

Tên gọi: – “Tích” có nghĩa là cột sống lưng.

– “Trung” có nghĩa là ở chính giữa.

Huyệt nằm ở phần giữa cột sống, giữa T1 và L5. Do đó mà có tên là Tích trung.

Theo “Y kinh lý giải” ghi rằng: “Tích trung, nó ở giữa dưới đốt sống lưng thứ 11. Lưng gồm có 21 đốt sống, mà chỗ này là chính giữa của nó, nên được gọi là Tích trung“.

Tên Hán Việt khác: Thần tông, Tích du, Tích trụ.

Huyệt thứ  6  thuộc Đốc mạch.

Mô tả huyệt:

1. Vị trí xưa: Dưới giữa đốt sống lưng thứ 11 (Giáp ất, Đồng nhân).

2. Vị trí nay: Dưới gai đốt sống lưng thứ 11 nơi chỗ hỏm. Khi điểm huyệt nằm sấp.

3. Giải phẫu, Thần kinh: Dưới huyệt là chỗ bám của gân cơ thang, cân ngực-thắt lưng của cơ lưng to, cơ răng bé sau-dưới, cơ gai dài của lưng, cơ ngang-gai, dây chằng trên gai, dây chằng vàng, dưới nữa là ống sống – Thần kinh vận động cơ là các nhánh của dây sọ não XI, nhánh đám rối cổ sâu, các nhánh của dây sống. Da vùng huyệt chi phối bởi tiết đoạn thần kinh T11.

Tác dụng trị bệnh:

1. Tại chỗ: Đai vai lưng.

2. Toàn thân: Tê liệt chi dưới, động kinh viêm gan.

Lâm sàng:

Kinh nghiệm hiện nay: Phối Túc Tam-lý, Trung quản, Kiến lý trị đầy bụng ăn ít. Phối Trung khu, Mệnh môn trị liệt mềm chi dưới. Phối Đại chùy, Yêu Dương-quan trị đau thắt lưng.

Phương pháp châm cứu:

1. Châm: Xiên, sâu 0,5 – 1 thốn.

2. Cứu: 3 – 7 lửa.

3. Ôn cứu: 5 – 10 phút.

Tham khảo:

1. “Giáp ất” quyển thứ 9 ghi rằng: “Đầy bụng không ăn được, châm Tích trung; hoàng đản châm Tích trung”.

2. “Giáp ất” quyển thứ 10 ghi rằng: “Cứng cột sống thắt lưng không cúi ngửa được châm Tích trung, lạnh hàn lâu ngày nhiều, trĩ, cứu huyệt Tích trung 100 lửa”.

3. “Đồng nhân” ghi rằng: “Tích trung trị động kinh, tích thực kiết lỵ do ôn bệnh, châm vào 5 phân, sau khi đắc khí thì tả”.

4. Các sách “Giáp ất”, “Đồng nhân”, “Đại thành”, “Đồ dực” đề ghi rằng: “Cấm không được cứu”. Sách “Thiên kim” lại ghi “Có thể cứu”. Hiện nay, thường người ta cho là có thể cứu.

5. Huyệt Tích trung, theo “Đồng nhân” gọi là Thần tông, “Thánh huệ” gọi là Tích du.

THẦN ĐẠO

GV 11 Shéndào (Chenn Tao)

Xuất xứ: “Giáp ất“.

Tên gọi: – “Thần” có nghĩa là thần khí, tinh thần, các hoạt động tinh thần.

– “Đạo” có nghĩa là con đường, lối đi.

Huyệt ở ngang với Tâm du và liên lạc với Tâm khí. Huyệt dùng trong biểu hiện những triệu chứng trên lâm sàng như: bất ổn tinh thần, kém trí nhớ, quá lo lắng buồn rầu, hồi hộp, suy nhược tâm thần, xáo trộn tình cảm thất thường. Vì thế gọi là Thần đạo.

Theo “Kinh huyệt thích nghĩa hội giải” ghi rằng: “Huyệt ở giữa dưới đốt sống lưng thứ 5, tương ứng với Tâm. Tâm tàng thần, huyệt chủ về thần, là đường thông của tâm khí, chủ trị về bệnh của tâm. Vì thế cho nên gọi là Thần đạo“.

Tên Hán Việt khác: Xung đạo, Tạng du.

Huyệt thứ  11  thuộc Đốc mạch.

Mô tả huyệt:

1. Vị trí xưa: Dưới giữa đốt sống lưng thứ 5 (Giáp ất, Đồng nhân, Phát huy, Đại thành).

2. Vị trí nay: Ở chỗ hỏm giữa gai sau 2 đốt sống lưng thứ 5 – 6. Khi điểm huyệt nằm sấp hoặc hơi khom lưng.

3. Giải phẫu, Thần kinh: Dưới huyệt là gân cơ thang, cơ gai dài cửa lưng, cơ ngang gai, dây chằng trên gai, dây chằng gian gai, dây chằng vàng. Dưới nữa là ống sống – Thần kinh vận động cơ là nhánh của dây thần kinh sọ não số XI, nhánh đám rối cổ sâu và các nhánh của dây thần kinh sống (nhánh trong của nhánh say dây thần kinh ngực 5). Da vùng huyệt chi phối bởi tiết đoạn thần kinh T5.

Tác dụng trị bệnh:

Toàn thân: Sốt nhiệt cao, bệnh thuộc tạng tim, sốt rét, động kinh, đau thần kinh liên sườn.

Lâm sàng:

1. Kinh nghiệm tiền nhân: Phối Tâm du trị động kinh (Bách chứng).

2. Kinh nghiệm hiện nay: Phối Bách hội, Tam-âm giao trị mất ngủ chóng mặt.

Phương pháp châm cứu:

1. Châm: Xiên, sâu 0,5 – 1 thốn.

2. Cứu: 3 -5 lửa.

3. Ôn cứu: 5 – 10 phút.

* Chú ý: Khi châm huyệt này lở ngộ châm sinh ra hôn mê như chết, dùng huyệt Trường cường để hóa giải, châm sâu 1,5 thốn kính thích. Khi cứu nên cẩn thận.

Tham khảo:

1. “Tố vấn – Thích nhiệt luận thiên” ghi rằng: “Dưới xương cột sống thứ 5 chủ trị can nhiệt”.

2. “Thiên kim” ghi rằng: “Chủ trị bệnh bạo phong phát đột ngột muốn chết, cấm khẩu không nói được, tê da thịt bất tỉnh nhân sự, cứu dưới xương cột sống thứ 5 gọi là huyệt tạng du 150 lửa tới 300 lửa là được. Thiếu khí cứu vào dưới xương sống lưng 5, tùy theo tuổi để cứu số lửa”.

3. “Đồng nhân” ghi rằng: “Thần đạo trị sốt lạnh đau đầu khi tăng khi giảm, sốt rét cách nhật, hoảng hốt buồn bã, hay quên hồi hộp, có thể cứu 70 lửa đến 100 lửa”.

4. “Bách chứng phú” ghi rằng: “Thần đạo kết hợp Tâm du trị động kinh” (Kiên Tâm du trị phong khốn thường phát sinh tự ninh).

5. “Kim giám” ghi rằng: “Thần đạo chủ trị trên vai lưng lạnh đau, sợ khiếp đoản khí” (Điên tật tất Thân trụ, Bản thần chi lệnh).

6. Theo “Kim giám” còn ghi huyệt Thần đạo với tên Tạng du.

error: Content is protected !!